NGHÊU NGAO HÁT THƯƠNG HỒ-Lê Đình Bảng

NGHÊU  NGAO  HÁT  THƯƠNG  HỒ.

Trường ca 127 khổ thơ Lục bát. Lê Đình Bảng.

Bùi Công Thuấn

***

 

1.Quanh năm, làm kiếp thương hồ
Nước sông, gạo chợ, con đò lênh đênh

  1. Quanh năm theo gió, theo mưa
    Còn bao nhiêu, cứ tha hồ rong chơi
    Làm sao ăn hết của trời
    Nước sông, gạo chợ, dễ người, dễ ta
  2. Đâu đâu, cũng kể là nhà
    Ăn nhờ, ở đậu qua loa đôi ngày
    Chập chờn, như cánh chim bay
    Mỗi năm chờ lũ, sóng vây khắp miền

Đó là những “câu hát nghêu ngao” của một gã thương hồ.

Nghêu ngao” là hát bâng quơ, không bài bản, không chủ đích. Về âm nhạc, hát nghêu ngao là mát mộc, không hòa âm phối khí, không cần tuân thủ nhạc luật. Người ta hát nghêu ngao khi lòng thảnh thơi, rộng mở trước đất trời, tràn ngập cảm xúc trước cảnh vật. Thế nên Nghêu ngao hát thương hồ là một bài ca của hồn thơ Lê Đình Bảng rộng mở trước cuộc sống trên quê hương mình.

Nhà thơ trên “con đò lênh đênh”, ra đi, “tha hồ rong chơi” không bến bờ, không nhà trú nắng che mưa, “Đâu đâu, cũng kể là nhà”, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Khát thì có nước sông (nước lã dưới sông, múc lên uống ngay, không cần đun sôi, nước của trời ngọt lành), đói thì có gạo mua ngoài chợ (gạo chợ, ở miền tây, chợ nào cũng có). Miền tây sông nước, “Mỗi năm chờ lũ, sóng vây khắp miền”. Con người chan hòa với nhau, “dễ người, dễ ta”. Nhà thơ cất lên tiếng hát thương hồ, tự nhiên, từ tận đáy lòng mình, như người miền tây thường hát hò trên sông nước. Tâm hồn phóng khoáng cởi mở và an nhiên. Thiên nhiên Nam bộ đầy mật ngọt hoa thơm, đầy tình thân con người.

Những lời hát nghê ngao ấy là hồn cốt của trường ca Nghêu ngao hát thương hồ.

Trường ca có 127 khổ thơ. Mỗi khổ thơ thường có 4 câu. Nội dung là những vùng miền ký ức khác nhau.

Phần I (khổ 1-91): kể lại chuyến chơi xa khắp miền sông nước tây Nam bộ.

Phần II (khổ 92-111): nhớ vế quê hương Ninh Bình (miền Bắc).

Phần III (khổ 112-127): là tâm tình (hiện tại) của người xa quê.

Tác giả hoàn thành trường ca này ngày 21/01/2026, khi đang định cư tại nước ngoài và đã nhiều tuổi. Ông sinh năm 1942, quê Thái Bình (năm 2026, ông đã 85 tuổi).

Hai phần đầu của trường ca là hồi ức một thời tuổi trẻ, phần cuối giàu chất suy tư về thực tại. Ở tuổi trời của ông, trường ca này có thể là những “lời gan ruột” của Lê Đình Bảng về quê hương đất nước, khi mà: “Nẻo về, xa tắp, mênh mông/ Hỏi khuya quạnh vắng, dặm buồn, trăng soi”(115).

Nhân vật trữ tình trong thơ vừa trong vai một thương hồ, vừa là một thi nhân lãng mạn, vừa có cốt cách của hiền nhân xưa trở về với thiên nhiên, như Nguyễn Trãi về Côn Sơn (Côn Sơn ca) hay nhân vật “Khách” ngao du sơn thủy trong Bạch Đằng Giang Phú của Trương Hán Siêu:

“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi,
Lướt bể chơi trăng mải miết.
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương,
Chiều lần thăm chừ Vũ huyệt.
Cửu Giang, Ngũ Hồ,
Tam Ngô, Bách Việt.
Nơi có người đi,
Đâu mà chẳng biết…”

(Bạch Đằng Giang Phú-Trương Hán Siêu. Bản dịch của Đông Châu, Bùi Văn Nguyên)

Ẩn bên dưới những chuyến đi, trường ca Nghêu ngao hát thương hồ tiếng nói trữ tình của nhà thơ. Và dõi theo hành trình sáng tác của Lê Đình Bảng, trường ca Nghêu ngoai hát thương hồ là một tác phẩm duy nhất được viết bằng bút pháp hiện thực. Về thể loại, trường ca này được viết bằng Lục bát, rất đậm chất ca dao. Lê Đình Bảng chuyển hóa được thi pháp Ca dao thành thơ trữ tình của riêng ông, một hướng đi mà nhiều nhà thơ Việt đương đại nỗ lực vươn tới, nhưng sau Nguyễn Bính, có rất ít nhà thơ thành công.

  1. Hát thương hồ khắp miền sông nước tây Nam bộ

            Đây là hành trình của nhà thơ.

Về thăm cây kiểng Cái Mơn
Bốn mùa ngây ngất mùi thơm hoa tràm
Đầy vườn, những bưởi, cùng cam
Hiu hiu đầu gió, trâu nằm ruộng sâu (khổ thơ 2)

Từ Cái Mơn (Bến Tre), nhà thơ về rừng ngập mặn Năm Căn (Cà Mau).

  1. Dàn phơi, lưới đáy dăng dăng
    Về rừng ngập mặn Năm Căn, tối trời

Từ Cà Mau về Ninh Kiều-Cần Thơ, qua Vàm Cống-An Giang phải đi phà. Dòng sông rộng, nhìn không thấy bờ bên kia. Ghé thăm những địa danh Rạch Miễu, Đầm Dơi, thăm sóc của người Miên, và nhìn sang xứ Chúa Tháp (Cambuchia).

  1. Về ăn bánh cống Ninh Kiều
    Thuyền qua sông nước mấy chiều Tây đô
    Ghé phà Vàm Cống, Cần Thơ
    Thấy em ở tít con đò trôi xa
  2. Qua phà Rạch Miễu rong chơi
    Từng đoàn xe khách nối đuôi nằm chờ
  3. Trái, hoa trên ngọn cây sào
    Theo thuyền chợ nổi, ghé vào Đầm Dơi
  4. Ngang qua phum sóc người Miên
    Có cây thốt nốt, tối đèn om om
    Chiều nay, theo đám ghe vòm
    Em sang Chùa Tháp, tôi còn nhớ ai.

 

Và khi “Em sang Chùa Tháp”, tức là Cambuchia (quen gọi là xứ Chùa Tháp. Người Cambuchia được gọi là người Miên), thì nhà thơ dừng bước.

Đặc điểm của các địa danh và hành trình chuyến đi đã được nhà thơ ghi rất rõ như một ký sự nên tôi không diễn giải gì thêm. Nhưng phải trực tiếp cùng với nhà thơ trong chuyến hành trình sông nuốc miền tây mới cảm nhận được những gì ông ghi nhận. Bạn đọc là người vùng miền khác thì cần theo chân nhà thơ bằng một bản đồ du lịch tây Nam bộ, có vậy, đọc thơ Lê Đình Bảng mới thấy thú vị.

Thí dụ, bạn không tận mắt chứng kiến “Chợ nổi” thì khó mà hiểu được “chợ nổi” sinh hoạt thế nào. Nó rất khác với khu chợ họp trên một mảnh đất làng. Nhưng nhà thơ chỉ ghi nhận “chợ nổi” bằng một chi tiết lạ.

Trái, hoa trên ngọn cây sào
Theo thuyền chợ nổi, ghé vào Đầm Dơi (76)

Ủa! hoa trái luôn ở trên cây xanh, sao nhà thơ lại viết trái, hoa trên ngọn cây sào!

Chợ nổi họp trên sông, người buôn bán thường cắm sào xuống sông để buộc thuyền cho khỏi trôi. Và, tiện thể, người ta treo hoa, trái, hàng hóa trên cây sào để khách mua dễ nhìn thấy đặc sản của từng ghe thuyền. Một sự việc rất đỗi bình thường nhưng đã được nghệ thuật hóa thành một “tứ thơ” lạ.

Cũng vậy, ở Cái Mơn, bạn đọc đang cùng nhà thơ say sưa với mùi thơm cây trái ngọt lành, nhà thơ bỗng phát hiện:

Đầy vườn, những bưởi, cùng cam
Hiu hiu đầu gió, trâu nằm ruộng sâu

Thông thường, người ta thấy con trâu cày vất vả trên đồng cùng với người nông dân: “Trên đồng cạn dưới đồng sâu/ Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” (Ca dao). Nhưng nhà thơ chợt thấy con trâu nằm trong vườn đầy bưởi, cam thơm, đầu ngọn gió hiu hiu. Quả là một bức tranh hiếm gặp và là một tứ thơ lạ, bất chợt. Vườn đầy cây trái gợi ra sự no ấm, ngọt lành, thơm thảo. Con trâu nằm nghỉ, đầu ngọn gió hiu hiu, nhàn nhã, thảnh thơi, như một hiền nhân (Truyền thuyết kể rằng, Lão Tử cưỡi trâu đi ngao du, sau thành Thái Thượng Lão Quân. Phật giáo có tranh Thập mục ngưu đồ, vẽ 10 bức tranh chăn trâu thể hiện con đường tu tập Thiền).  Câu thơ vẽ ra cảnh rất thực nhưng lại giàu có về tư tưởng và cảm xúc thẩm mỹ. Miền tây Nam bộ cảnh vừa đẹp, vừa no ấm thanh bình vừa rất nên thơ lại giàu chất phương đông. Bởi hình ảnh con trâu cũng là đặc trưng của đồng quê Việt, đặc trưng của vẻ đẹp Việt mộc mạc, chân chất và rất nhân ái. Hình ảnh ấy được nhà thơ Lê Đình Bảng đưa vào thơ như một sự nối tiếp những nguồn mạch tư tưởng và thẩm mỹ của Ca dao Việt.

  1. Thi pháp Ca dao

Trong trường ca Nghêu ngao hát thương hồ có nhiều phát hiện mới lạ như vậy. Nói thật đúng, Lê Đình Bảng góp thêm Ca dao mới cho kho tàng Ca dao Việt. Ông sử dụng Thi pháp ca dao để ghi lại đời sống, sinh hoạt của miền quê Việt hôm nay (Ca dao xưa chủ yếu là ở nông thôn), và qua đó chuyển tải những tình tự quê hương của mình.

Thi pháp là các yếu tố hình thức, phương thức cách kiến tạo cùng với ý thức thẩm mỹ của nhà văn để làm ra tác phẩm. Nghiên cứu Thi pháp học là nghiên cứu con đường sáng tạo của nhà văn. Từ đó tìm ra tư tưởng thẩm mỹ, đối tượng sáng tác, vùng miền hiện thực được hướng về; khám phá các yếu tố của cấu trúc tác phẩm là thời gian, không gian nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ, diễn đạt, tu từ, giọng điệu và cách diễn ngôn…

Ca dao thường được viết bằng thể thơ Lục bát (Đồng dao là thơ 4 chữ), điệu nói, hướng về người đọc (khác với thơ trữ tình, độc thoại  hướng vào nội tâm). Ca dao sử dụng Thể Phú, Thể Tỷ Thể Hứng là 3 phương thức diễn đạt chính. Phú là miêu tả hoặc kể lại sự việc (tự sự), thể Tỷ là so sánh ví von. Thể Hứng là mượn sự việc gợi hứng rồi nhân đó dẫn vào câu chuyện (Thí dụ ca dao: “Trèo lên cây bưởi hái hoa…”). Trong Ca dao, cả ba “Thể” này là đặc trưng phương cách sáng tác, chúng tạo ra những giá trị thẩm mỹ rất giàu có và rất riêng.

Ngoài ra, Ca dao còn dùng rất nhiều phép tu từ như phép trùng điệp, ẩn dụ, ngoa ngữ, chơi chữ, nói tránh, nói giảm, phép đối; có cả tu từ cú pháp.

Hình ảnh của ca dao là hình ảnh cụ thể biểu cảm trực tiếp, khác với “tứ thơ” thường là hình ảnh tư tưởng, diễn đạt bằng ẩn dụ. Thí dụ ca dao: “Em về anh nắm cổ tay/ Anh hỏi cầu này, có lấy anh không?”. Vì thế Ca dao đọc lên là hiểu ngay, không cần diễn giải.

Ca dao xây dựng nhiều mô tip (motif) riêng, thí dụ mô tip “nỗi nhớ” (Khăn thương nhớ ai/ Khăn vắt lên vai…; Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/ Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”…)

Về nội dung, Tục ngữ là câu nói dân gian chứa đựng kinh nghiệm và minh triết Việt. Trái lại, Ca dao là bài hát, là tiếng nói tình cảm của người bình dân. Ca dao Việt Nam có nhiều bài rất hay về tình yêu lứa đôi, về gia đình, về thân phận, về quê hương. Đàng khác, khi Ca dao được dùng trong sinh hoạt thì đề tài phong phú hơn như Ca dao vui, Ca dao tục và Ca dao phê phán thói đời…

Về ngôn ngữ, Ca dao sử dụng lời nói hàng ngày (khẩu ngữ) của người bình dân kể cả những từ thô mộc. Thí dụ, Lê Đình Bảng viết:

  1. Cũng từ đồng ruộng nông sâu
    Từ nơi những bãi phân trâu, phân bò
    Cũng từ cỏ, rạ, rơm khô
    Cũng từ thóc lúa, nắng mưa, mùa màng

Chất liệu của Ca dao là những sự vật, sự việc hiện diện ngay trong đời sống lao động xung quanh (Thí dụ: “Hôm qua tát nước đầu đình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”).

Trong Ca dao, ngoài nhân vật chính là dân quê (kiểu nhân vật tự sự), còn có nhân vật “Ai” là nhân vật phiếm chỉ để nói chung về mọi người và nhân vật Em là nhân vật trong tâm tưởng để người làm thơ đối thoại.

Lê Đình Bảng sử dụng rất sáng tạo tất cả những yếu tố Thi pháp ấy của Ca dao, như thể chính nhà thơ là người của Ca dao. Thơ lục bát của Lê Đình Bảng tài hoa, phóng khoáng, tự nhiên như hơi thở; trôi chảy, dào dạt, mênh mang, như suối nguồn, sông lớn đổ ra biển khơi..

Đây là hình ảnh đời sống trù phú của miền tây, sinh hoạt đông vui, khung cảnh làm việc khác hẳn các miền khác, vì miền tây là miền của kinh rạch, sông nước, thuyền bè. Ngòi bút miêu tả thật sống động (Thể Phú), rất tinh tế. Phương ngữ Nam bộ dày đặc.

  1. Dân làng làm sớm, quên trưa
    Gái trai cà rỡn, hát hò thâu đêm
    Cắt rau ra chợ bán đêm
    Mau chân, kẻo trễ, nước lên triều cường
  2. Được mùa, ai chẳng thêm vui
    Lúa ngô vừa hái, đất mùi lên thơm
    Đầy trời gió táp mưa tuôn
    Ấy ai gượng dậy, sau cơn ba đào
  3. Ngày mùa, cơm mới ngây ngây
    Cà lang, lúa bó về đầy quanh sân
    Ngó chùm hoa khế lăn tăn
    Mọc dày chi chít, từ thân ra ngành
    Đất đồng, đỗ lạc xen canh
    Chờ khi nón lá chòng chành em qua

Đây là một khổ thơ viết theo thể Hứng của Ca dao, Cái Đẹp rất gần gũi và tinh tế.

  1. Gói xôi buộc sợi rơm vàng
    Chờ em quang gánh về làng long hong
    Về trong xóm trúc bên trong
    Ngoài đê nước ngập, trong đồng, lúa lên

Không biết “gói xôi buộc sợi rơm vàng” ấy có liên quan gì đến việc “chờ em gánh hàng

 về long hong” hay không. Ngày nay người ta gói xôi bằng lá hay giấy, hoặc gói nilon và ràng bằng dây thun. Chẳng ai lấy rơm để cột gói xôi cả. Cho nên “Gói xôi buộc sợi rơm vàng” trở thành một ẩn dụ, trở thành câu thơ gợi hứng (gợi cảm xúc thẩm mỹ) cho lý do tại sao (người thơ, hay ai đó) “chờ em”, dù ngoại cảnh có rất eo hẹp: bên trong là xóm trúc, bên ngoài thì đê ngập nước, dưới đồng thì lúa lên không làm nơi hẹn hò được.

Hình ảnh đặc trưng miền tây – Nam bộ làm người đọc ngạc nhiên, thú vị. Xin lưu ý, câu thơ không có chủ ngữ, vì thế hình ảnh thơ là hình ảnh chung của con người miền tây sông nước.

  1. Thả xuồng trôi dạt loanh quanh
    Qua cây bùm xụm, khóm tranh gió lùa
  2. Ở không, đốt thuốc phì phèo
    Bắt câu vọng cổ, gác chèo thả trôi
    Thuyền qua xóm lá nhà chòi
    Thoắt trông hàng đáy, dàn khơi xa bờ…

Đây là một phép so sánh đậm chất Ca dao:

  1. Tuổi đời em cứ măng mai
    Như dây mít mật, mít dai chín vàng

Ca dao mới:

83.Ngày em đò dọc qua sông
Dẫu xa thì cũng đành lòng chia xa

Ca dao cũ, hình ảnh đò ngang đưa người qua sông chỉ người con gái theo chồng. Thí dụ:

Đưa người ta không đưa qua sông” (Tống biệt hành-Thâm Tâm). Miền tây sông nước, cưới

nhau ở xa, thường đi đò dọc. Thành ra mới có câu “Ngày em đò dọc qua sông”. Cái lạ là ở hình ảnh “đò dọc qua sông” vì đò dọc là con đò chở khách, chạy từ đầu sông đến cuối sông. Đò dọc không đưa khách qua sông. Cho nên “qua sông” là ý tứ của ca dao cũ. Lê Đình Bảng đã làm mới Ca dao.

Điều đọng lại trong lòng người thương hồ là “tình thương yêu” dành cho những phận người vất vả, gian nan vì nước lũ, quanh năm chống chèo. “Lấy gì áo ấm cơm no”.

35.Dây trầu dựa dẫm thân cau
Nắng mưa dầu giãi, bạc đầu lứa đôi

  1. Khi không, trời rét căm căm
    Chỗ lo chống lũ, chỗ nằm chờ mưa
    Lấy gì áo ấm, cơm no
    Lấy ai chèo chống sớm trưa đỡ nàng
  2. Sớm mai, cơm nước, ra đồng
    Tháng Ba, đã thấy mưa giông, đầu mùa
    Ai về Chợ Nổi, Cần Thơ
    Sông Tiền, sông Hậu đôi bờ mênh mang
  3. Khi nào trở lại làng bên
    Là mùa cá chạy, lũ lên trắng đồng
    Là ngày cả gió, long hong
    Nhớ hương bánh đúc còn nồng hương vôi
  4. Chờ khi búp trổ, bung hoa
    Chim kêu nước lớn, sao mà buồn ghê
    Ai ngờ trời đất ngăn chia.
    Bỗng dưng, cá chết trắng bè, thương ai
  5. Có khi nghe gió thở dài
    Lũ chim bỏ trốn ra ngoài đầu thôn
    Thương lùm cây dại tươi non
    Thương con cua biển gạch son đò đào

74.Thuyền ra cửa biển đăng cua
Thương ai lam lũ đắp bờ lui cui

  1. Quê hương tít tắp xa khơi

            Nhân vật khách thương hồ chuyển sang nhân vật Tôi/  Mình. Phần II và phần III của trường ca là nỗi nhớ thương quê hương khi tác giả ở xa.

Nhà thơ sống với ký ức về cảnh sắc, con người quê hương cùng với những sinh hoạt đời sống lao động.

Về thi pháp, câu thơ Lục bát Lê Đình Bảng vẫn giữ đặc điểm thi pháp Ca dao:

  1. Ở nơi tít tắp xa khơi
    Quê tôi chân chất những người thuần nông
    Trĩu vai thương mẹ gánh gồng
    Nhớ sen, nhớ súng, nhớ bông trúc đào
  2. Chỗ này, đất cát lao xao
    Chỗ kia, phơi gạch, khuân vào lò nung
    Những chiều vần vũ mưa giông
    Được hôm nắng ráo, ra sông, đón tàu
  3. Giọt, từng giọt chảy đâu đâu
    Tai nghe tiếng nước giếng sâu sau nhà
    Thánh thần quanh quẩn đâu xa
    Một là xó bếp, hai là cây đa
  4. Chờ câu quan họ tình tang
    Là đi về chốn mình đang thuộc về
  5. Nhớ hôm đầu rượu, ca trù
    Có nghe mưa rất hiền từ mái hiên

Trong tâm hồn nhà thơ, quê hương hiện lên không chỉ là cảnh sắc, đời sống sinh hoạt

dân quê, mà còn là thế giới tâm linh (“Thánh thần quanh quẩn đâu xa/ Một là xó bếp, hai là cây đa”), và không gian văn hóa (hát Ca trù, hát Quan họ)

            Khi định cư ở nước ngoài, quê hương xa tít tắp, tâm hồn nhà thơ trĩu nặng. Thi pháp Ca dao chuyển sang thi pháp thơ trữ tình. Nỗi nhớ quê có  hương vị truyện Kiều hòa với Ca dao và thơ Lãng mạn.

  1. Nẻo về, xa tắp, mênh mông
    Hỏi khuya quạnh vắng, dặm buồn, trăng soi
    Hoài trông vực dưới chân rời
    Ngàn xanh lớp lớp, tăm hơi, ngọn triều
  2. Ơi người, đâu vắng tri âm
    Lắng nghe buồn, những nốt trầm ghi ta

Như sống ảo, cái thời ở quê, Nhà thơ độc thoại, độc diễn, buồn vui với chính mình. Tự hình dung ra mình uống rượu, hát bội, hút thuốc lào, chuyện vãn suốt đêm trăng. Ngày mới lên, lại lo cám bã cho đàn lợn rồi thả trâu ra đồng, và thả thêm bè nứa tình duyên. Bao nhiêu công việc hàng ngày ở quê, bận rộn nhưng vui, tất tả nhưng đầy ắp tình thân. Bây giờ những công việc ấy trở thành ký ức sống với người ở xa quê, mà xung quanh là xứ lạ quê người.

Tình thơ sâu nặng và cảm động biết bao. Tình quê tưởng như đã quá quen thuộc trong thơ ca Việt lại được Lê Đình Bảng miêu tả rất mới lạ. Đó là chỗ tài hoa của phong cách thơ Lê Đình Bảng.

  1. Vài chung, chưa đủ mềm môi
    Làm chay, hát bội, cả cười thâu đêm
    Thuốc lào, chuyện hão huyên thuyên
    Trăng lên sau bếp, đã trên đỉnh đầu

    119. Tờ mờ gà gáy, hôm sau
    Cỏ rau, cám bã, thả trâu ra đồng
    Thả thêm bè nứa qua sông
    Mời em, tôi đỡ gánh gồng, cho nhau

            Sự cô độc chất chứa bao nỗi bi thương

  1. Mịt mù lau lách bên sông
    Nhấp nhô bờ bãi, chiều trông bóng mình
  2. Bút pháp hiện thực và giá trị thơ Lê Đình Bảng

Trường ca Nghêu ngao hát thương hồ (thơ Lục bát), cùng với trường ca Nhật Nguyệt

 Hành (thơ 8 chữ) [[1]] là 2 trường ca hiếm hoi của Lê Đình Bảng được viết bằng bút pháp hiện thực. Tức là nhà thơ hướng về đời sống hiện thục để khám phá ý nghĩa cuộc đời tìm tư tưởng cho thơ, tìm nhân vật lý tưởng của mình; để gửi gắm chia sẻ thông điệp về sự trải nghiệm với mọi người và để tôn vinh Cái Đẹp theo cảm quan riêng (Lý tưởng thẩm mỹ).

Hầu hết thơ Lê Đình Bảng là thơ tôn giáo được viết bằng bút pháp lãng mạn. Lê Đình Bảng sáng tác trong ánh sáng của Mỹ học Kitô giáo, với mục đích: “Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện”. Giá trị của thơ Lê Đình Bảng là giá trị tâm linh, giá trị văn hóa, giá trị loan báo Tin Mừng. Đó là con đường sáng tạo của riêng nhà thơ, là sự chọn lựa có ý thức, đầy dấn thân, đánh đổi bằng cả một kiếp trời. Khó có thể tìm thấy trong thơ Lê Đình Bảng những vấn đề hiện thực của xã hội Việt Nam như trong dòng chính của thơ Việt đương đại.

Vì thế, giá trị hiện thực là một giá trị đặc sắc của trường ca Nghêu ngao hát thương hồ. Trường ca ghi nhận nét đẹp đời sống thương hồ, nét đẹp của những cảnh sắc quê hương ở cả hai miền Nam Bắc; những sinh hoạt, cuộc sống lao động, niềm vui, nỗi buồn, sự vất vả, và tâm tình của của người dân quê. Tình duyên gái trai là một dòng thơ rất đẹp, nối tiếp tình ca của ca dao, dân ca.

  1. Những là ngày tháng pha phôi
    Tình em như chén chè trôi, nước mè
    Thèm tô mì gõ đêm khuya
    Bánh tôm phơi trắng nong nia trước nhà
  2. Thả bò ra mãi đồng xa
    Mỗi chiều, con nước đổ ra mịt mờ
    Em về lúp xúp trong mưa
    Trong khăn áo mỏng như tờ thư hoa

Tất nhiên, việc khám phá và miêu tả hiện thực trong “Nghêu ngao hát thương hồ” là có chọn lọc và có chủ đích. Hiện thực chiến tranh và hiện thực công nghiệp hóa đất nước chỉ được lướt qua trong một hai câu thơ.

  1. Mấy mùa chinh chiến tan hoang
    Người đâu, như nước trên ngàn về xuôi
  2. Ai về Gia Viễn mà xem

         Tiếng mìn phá núi cả đêm lẫn ngày
         [Ghi chú: Huyện Gia Viễn, phía Bắc của tỉnh Ninh Bình],

Còn lại là hiện thực những miền quê “ngày xưa” thanh bình. Thơ Lê Đình Bảng không có  bóng dáng những vấn đề hiện thực xã hội hôm nay.

Đoạn thơ sau đây ghi nhận đầy đủ, sinh động, bức tranh xã hội miền quê thanh bình “ngày xưa. Người dân quê hạnh phúc, no ấm, cảnh vật ở đâu cũng đẹp, cả nắng vàng chiếu ngang đập nước cũng đẹp. Không gian đầy tình nghĩa cộng đồng làng quê.

  1. Gió về trong rặng bần chua
    Tiếng chày quết bánh mơ mơ, màng màng
    Hôm qua, gánh hát về làng
    Diễn tuồng Thằng Cuội, Chị Hằng, vui thay
  2. Người xem, từng lũ, từng bầy
    Đất không còn chỗ,
    đứng đầy, liêu xiêu
    Vé vào thì chẳng bao nhiêu
    Nghe con chim lạc buồn kêu sau vườn
  3. Gốc bần, để cả chà chôm
    Đợi ghe ba lá cà vom tấp vào
    Nắng vàng vừa ló lên cao
    Chiếu ngang đập nước, đê bao, mé đường
  4. 30. Sầu riêng chín rụng ngoài vườn
    Nghe tôm cá quẫy bờ mương nước đầy
    Hẳn là mưa bóng, mưa mây
    Em đi ướt áo, lại lầy lội trơn

Lê Đình Bảng bày tỏ tình cảm quê hương thấm thía, thiết thân như máu thịt với mọi con người quê hương. Đó là tình cảm cộng đồng, tình cảm dân tộc, làm nên bản lĩnh và kết tinh thành những giá trị căn cốt của người Việt.

Tình quê hương trong trường ca “Nghêu ngao hát thương hồ”mang phẩm chất truyền thống. Điều này làm nên giá trị cơ bản của thơ ông. Cũng là vẻ đẹp và sức hấp dẫn của thơ Lê Đình Bảng.

  1. Người dân xóm núi quê tôi
    Đang trưa, nóng vã mồ hôi nhọc nhằn
    Miệt mài, chân nẻ, vai trần
    Đã quen những nét văn thân thuồng luồng
  2. Bạn bè, hạt muối cắn đôi
    Lưng cơm, bát cháo, từng hơi thuốc lào
    Chim ơi, nghe tiếng chim chào
    Hay vì lá thắm sa vào gió trăng
  3. Nẻo về, xa tắp, mênh mông
    Hỏi khuya quạnh vắng, dặm buồn, trăng soi
    Hoài trông vực dưới chân rời
    Ngàn xanh lớp lớp, tăm hơi, ngọn triều

Cảm hứng thơ của Lê Đình Bảng trong “Nghêu ngao hát thương hồ” cảm hứng thế sự. Đây cũng là chất riêng của trường ca, phân biệt thơ những tập thơ khác của ông. Hình ảnh tôn giáo chỉ thoáng qua trong 2 khổ thơ:

  1. Làng em ở cuối mom sông
    Có triền bông cải, có vồng lúa non
    Nhà thờ, bóng tháp con con
    Nhấp nhô lúa sóng, dập dồn hàng dương
  2. Gặp người vừa ở quê ra
    Cứ như cây trái, lá hoa vườn nhà
    Bao giờ cho đến Tháng Ba
    Vào mùa Thương Khó, mưa sa nhạt nhoà

Trường ca đầy ắp hình ảnh cuộc đời, cảnh sắc quê hương đất nước, vẻ đẹp con người Việt Nam nơi các miền quê đôn hậu, chịu thương chịu khó và sống rất nghĩa tình. Lê Đình Bảng chụp được những cảnh, những nét chân thực của mọi miền ông đến, mỗi nơi ông qua, ông trò chuyện với mọi người như người thân yêu và bày tỏ niềm vui nỗi buồn , nỗi vất vả gian nan của người quê, thương yêu những phường lưu tán, những cô gái quê lấy chồng sớm lại đông con phải lam lũ, người mẹ gánh gồng, và thương thân hiu quạnh, một mình đi tìm bóng mình

  1. Ơi người bờ bãi, kinh mương
    Bao năm tụ bạ, làm phường lưu dân

51.Lấy chi chồng sớm, đông con
Ơi cô thôn nữ qua cơn mưa mùa

93.Trĩu vai thương mẹ gánh gồng

Nhớ sen, nhớ súng, nhớ bông trúc đào

122.Thế rồi, ta cũng xa quê
Ai xui nên nỗi, buồn se sắt buồn
Mịt mù lau lách bên sông
Nhấp nhô bờ bãi, chiều trông bóng mình

Thơ nghiêng về suy tư hiện sinh, nhưng Lê Đình Bảng không lý giải nguồn cơn “Ai xui nên nỗi”. Triết học phương đông hay phương tây không dẫn ông đến ánh sáng cuối đường hầm hiện sinh. Ông sống với ký ức về quê hương, ông tâm tình trò chuyện với người quê mà một thời ông đã hòa mình với họ trong cả nắng mưa dãi dầu hay trong những vườn cây trĩu quả ngọt lành. Quê hương trở thành thế giới tâm hồn nhà thơ, trở thành nguồn cảm hứng vô tận, trở thành giá trị thẩm mỹ và cốt cách thơ ông, và quê hương ấy mãi tươi đẹp, sum suê, xanh tốt trong nắng vàng tươi.

  1. Chờ ăn bông súng, mắm kho
    Nghe con nước nổi, trời mưa Tháng Mười
    Được xoài, sai lúa, ai ơi
    Sầu riêng, cơm trắng, vàng tươi, ngọt lành

Thật hiếm có những Ca dao mới gây được ấn tượng về vẻ đẹp quê hương và tấm lòng thơm thảo của người quê như khổ thơ trên. Ấy là, tôi muốn nói đến giá trị hiện thực và giá trị nghệ thuật đặc sắc của thơ Lê Đình Bảng: nghĩa tình-dân dã-tài hoa. 

***

Quả thực, chỉ trong trường ca, đặc biệt là trường ca viết bằng Lục bát Ca dao, Lê Đình Bảng mới phóng bút thỏa thích bay lượn không mệt mỏi trong bầu trời nghệ thuật cao rộng, ở đó, phong cách lãng mạn – tài hoa của ông đã đóng góp cho thơ ca Việt đương đại những áng thơ kết tụ được cả vẻ đẹp truyền thống và vẻ đẹp tâm hồn Việt hôm nay.

Tháng 2/2026

P/s : bạn có thể tải 12 tác phẩm của Lê Đình Bảng về đọc theo link:

https://www.mediafire.com/file/f9yw2j8o8x3b207/12+TÁC+PHẨM+LĐB+2026.rar/file

______________________________

[1] Nhật Nguyệt Hành: trong trường ca này, hiện thực Việt Nam chiến tranh, đói khổ, lầm than hiện lên rõ hơn, thái độ sồng của Lê Đình Bảng bộc lộ cụ thể hơn.

1.Rồi một hôm, dong thuyền về miệt dưới
Đặng bỏ câu, bắt rắn, đuổi chuột đồng
Từ Đàng Ngoài, vô tới xứ Đàng Trong
Xuôi mấy xã đầu nguồn, con nước lớn

Loading

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok