50 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM (1975-2025),
Phác thảo một hướng nhìn[[1]]
Bùi Công Thuấn
***
TÁC GIẢ GIỮ BẢN QUYỀN
![]()
Trong khi chờ đợi một bộ Lịch sử văn học chính thức của các cơ quan có thẩm quyền, chuyên luận này là một góc nhìn riêng về thành tựu và triển vọng của 50 năm văn học Việt Nam (1975-2025) kể từ khi đất nước hòa bình, thống nhất đến nay.
PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM CỦA VĂN HỌC 1975-2025
Cần xác lập cho được đặc điểm của văn học 1975-2025 để nhận ra một thời kỳ văn học mới khác biệt với Văn học kháng chiến (1945-1975), từ đó khẳng định những thành tựu và nhìn ra khuynh hướng phát triển của văn học Việt đương đại.
Tôi không viết Văn học sử nên không trình bày phân kỳ văn học Việt Nam trong chuyên luận này. Nhưng có thể tạm nhận dạng 3 chặng đường phát triển là: Giai đoạn chuyển tiếp (1975-1986), Giai đoạn “đổi mới” (1986-2005), và Giai đoạn hội nhập toàn cầu hóa (2005-2025). Sự phát triển đồng thời của 3 dòng văn học là: Văn học Cách mạng và Kháng chiến, Văn học Nhân văn-Dân chủ và Văn chương thị trường (Xin lưu ý: phải cần một công trình riêng để phân tích những đặc điềm của phân kỳ lịch sử văn học trên).
Tôi chọn hai góc quan sát để ghi nhận và nghiên cứu.
Thứ nhất là, soi chiếu văn học với tư cách là một thành tố văn hóa. Ở góc nhỉn này, “văn hóa là một mặt trận”, và “văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy” (Hồ Chí Minh). Văn học 1975-2025 thực hiện nhiệm vụ chính trị trong mặt trận ấy thế nào?
Thứ hai là, nghiên cứu sự vận động nội tại của văn học với tư cách là một loại hình nghệ thuật. Góc nhìn này, Văn học được khảo sát như một thực tại thẩm mỹ. Nó có đặc trưng bản chất riêng, có cấu trúc riêng, có sự vận động riêng, tuy là một hình thái ý thức như thực tại chính trị-xã hội, song không phải lúc nào cũng phát triển đồng bộ với kinh tế, chính trị.
Hai góc nhìn ấy tôi dùng làm tiền đề, làm hệ quy chiếu có ý nghĩa phương pháp luận để phân tích những hiện tượng văn học, đánh giá các hoạt động văn học, và xác lập các giá trị văn học 1975-2025.
Từ “góc nhìn phương pháp luận” ấy, có thể khái quát: văn học 1975-2025 là một nền Văn học Cách mạng và Đổi mới. Nghĩa là, bản chất của văn học Việt Nam giai đoạn 1975-2025 là văn học Cách mạng, và sự vận động của 50 năm văn học vừa qua là nỗ lực đổi mới.
Hai đặc điểm này bao quát toàn diện nền văn học và là tiêu chí khẳng định các giá trị văn học. Nếu nhìn văn học 1975-2025 dưới góc nhìn phương pháp luận khác, sẽ không tránh được sự ngộ nhận. Chẳng hạn, nếu chỉ nhìn văn học là một thực tại thẩm mỹ, biệt lập với bối cảnh chính trị-xã hội (quan điểm Tư sản), thì nhà nghiên cứu, với cái nhìn siêu hình ấy, sẽ không nhận ra giá trị của văn học trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân, không thấy được cuộc đấu tranh quyết liệt trong mặt trận văn hóa tư tưởng mà văn nghệ sĩ là những chiến sĩ trên trận địa này. Điều này đã được khẳng định trong báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh từ 1948:
“Không phải chỉ cần phê bình những khuynh hướng sai lầm về tư tưởng, học thuật, nghệ thuật của ta mà thôi; phải phê bình và nhất là chú trọng đả kích tư tưởng, văn học, nghệ thuật phản động của địch. Cuộc đấu tranh về văn hóa và tư tưởng không thể tách rời cuộc đấu tranh về chính trị, quân sự và kinh tế được. Kẻ thù đem tư tưởng bi quan hưởng lạc ra nhồi sọ thanh niên ta trong vùng chúng kiểm soát; chúng mê hoặc quần chúng bằng những quan điểm ích kỷ, duy tâm; chúng truyền bá nghệ thuật suy đồi, thối tha của chúng; chúng đầu độc tinh thần nhân dân ta một cách vô cùng thâm độc. Ta đã theo dõi để vạch mặt chúng chưa? Đuy-ha-men (Duhamel) sang Đông Dương lớn tiếng bênh vực chính sách ăn cướp của lũ thực dân; ai là người trong giới văn nghệ chúng ta đã đứng ra trả lời cho hắn một cách đích đáng? Trong chiến tranh chống thực dân xâm lược này, cuộc đấu tranh về tư tưởng không thể thiếu được!”
Đặc điểm 1: MỘT NỀN VĂN HỌC CÁCH MẠNG
Văn học 1975-2025 là một nền văn học cách mạng bởi vì nền tảng tư tưởng của văn học là Chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nội dung của văn học là cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân. Mục đích của văn học là thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam. Nền văn học do Đảng trực tiếp lãnh đạo và tổ chức các hoạt động văn học.
Vì thế thành tựu văn học của 50 năm vừa qua là thành tựu của những quan điểm, đường lối, chính sách về văn hóa, văn học của Đảng.
Thành tựu ấy khởi đi từ Đề cương văn hóa (1943); Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) trong suốt giai đoạn kháng chiến. Và, từ 1975 đến nay, là các Nghị quyết trung ương V (1998) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị (2008) “về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”. Nghị quyết 33-NQ/TW (9/6/2014) “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Không có sự lãnh đạo của Đảng thì không thể có sự nghiệp văn học Cách mạng 50 năm qua.
Những Nghị quyết của Đảng về văn học nghệ thuật vừa là tư tưởng, vừa là con đường hành động, vừa là mục tiêu cách mạng về văn học. Các tổ chức văn học của Đảng cùng với hệ thống chính trị, phát huy sức mạnh toàn dân, để tạo nên những thành tựu văn học, góp phần vào thành tựu của cách mạng Xã hội Chủ nghĩa ở Việt Nam. Chẳng hạn, đối tượng của văn học là Công, Nông Binh. Nội dung của văn học là đời sống chiến đấu của nhân dân. Ngôn ngữ của tác phẩm là lời ăn tiếng nói của quần chúng. Đội ngũ nhà văn xuất thân từ nhân dân, từ mọi tầng lớp xã hội, trên khắp mọi miền đất nước.
Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn học Nghệ thuật các tỉnh, “là tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, được đầu tư, chăm lo cho sự phát triển” (Nghị quyết 23/ BCT).
Về hoạt động văn học, việc tổng kết đánh giá hàng năm của Hội Nhà văn, của các Hội Hội Văn học Nghệ thuật địa phương, là những tổng kết, đánh giá về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của văn học.
Nói cụ thể hơn, phẩm chất cách mạng của văn học 1975-2025 thể hiện tập trung ở:
- Đảng lãnh đạo toàn diện văn học
Lãnh đạo về tư tưởng bằng các Nghị quyết Trung ương V, Nghị quyết 23 của BCT, Nghị quyết 33 TW (2014)…
Lãnh đạo bằng tổ chức Hội Nhà văn và các Hội Hội Văn học Nghệ thuật địa phương, thông qua Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật toàn quốc. Mỗi tổ chức Hội đều có Đảng bộ trực tiếp lãnh đạo. Mọi hoạt động của Hội đều có sự chỉ đạo của Đảng bộ.
Nhà nước cấp kinh phí cho các hoạt động Hội, trao Giải thưởng về văn học nghệ thuật, Giải thưởng Hồ Chí Minh để tôn vinh những tác giả, tác phẩm văn học cách mạng.
- Giai đoạn 1975-2025 là 50 năm văn học không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện nhiệm vụ đấu tranh để bảo vệ những quan điểm của Đảng về văn học, chống những quan điểm sai trái, bảo vệ thành quả văn học cách mạng.
Nghị quyết TW 5 ghi rõ nhiệm vụ: “đấu tranh chống các khuynh hướng trái với đường lối văn nghệ của Đảng”, và phê phán những hiện tượng:
“Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu văn học cách mạng và kháng chiến, đối lập văn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa vói chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hoá”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức năng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật bị suy giảm.”
Hội đồng Lý luận, phê bình VHNT trung ương trong 20 năm (2003-2023) đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm, tập huấn, nghiên cứu khoa học về lý luận và phê bình văn học, đồng thời, tặng thưởng cho nhiều tác phẩm lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật xuất sắc. Những hoạt động này diễn ra suốt từ miền bắc vào miền nam, góp phần bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng về văn học nghệ thuật, giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn của Văn học nghệ thuật Việt Nam.
(Xin đọc diễn văn Phát biểu của PGS. TS nhà văn Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng kỷ niệm 20 năm (2003-2023) thành lập Hội đồng LLPB VHNT TW [[2]])
Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức các Hội nghị Lý luận-Phê bình văn học: lần thứ I (năm 2003), lần II (Đồ Sơn-năm 2006), lần III (năm 2013), lần thứ IV (Tam Đảo-năm 2016). Những hội nghị này tập trung giải quyết những vấn đề về tư tưởng, về phương pháp sáng tác, của thực tiễn văn học.
Thí dụ, Đề dẫn của Hội nghị LLPB lần thứ IV tại Tam Đảo 2016 là: “Để có cái nhìn toàn diện về văn học thời kỳ đổi mới”. TS Trần Hoài Anh đọc tham luận: “Tiếp nhận lý thuyết phương Tây- thành tựu của Lý luận phê bình văn học thời kỳ đổi mới”. Nhà văn Nguyên An chỉ ra: “Nhân vật trung tâm của văn chương-Văn học thời đổi mới, phát triển”. Tổng kết hội nghị, nhà thơ Hữu Thỉnh nêu ra những thành tựu của đổi mới và hiện đại hóa nền văn học, đã có bước tiến mới về nghiên cứu lý luận văn học, và đặt vấn đề “kết tinh” tác phẩm, vấn đề suy thoái đạo đức, vấn đề hòa hợp dân tộc…
3.Số lượng tác phẩm chiếm ưu thế của nền văn học 1975-2025 là sáng tác về đề tài Cách mạng và Kháng chiến, về biển đảo, về xây dựng nhân cách con người Việt Nam, theo các nhiệm vụ mà các Nghị quyết của Đảng đã đề ra.
4.Tính chất cách mạng triệt để của văn học 1975-2025 thể hiện trong việc xử lý những hiện tượng cụ thể sau:
- Việc nhà văn Nguyễn Minh Châu viết “Hãy đọc ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”(báo Văn nghệ, Hà Nội, ngày 05/12/1987), và GS Hoàng Ngọc Hiến viết về “Chủ nghĩa hiện thực phải đạo” trong bài “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” (Văn nghệsố 23, ra ngày 9/6/1979), những quan điểm này bị phê phán vì có nhiều sai lạc.
- Đỗ Thị Thoan (Nhã Thuyên) dùng lý thuyết ngoại biên-trung tâm trong luận văn Thạc sĩ: “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” (năm 2010) để thực hiện việc lật đổ Văn học Cách mạng. Đây là hành động chính trị chống Đảng dưới vỏ bọc học thuật. Sự việc đã được các cơ quan có trách nhiệm xử lý triệt để [[3]].
- Trước Đại hội 9 và Đại hội 10, Hội Nhà văn Việt Nam có thái độ rõ ràng và dứt khoát đối với Ban vận động thành lập Văn Đoàn Độc lập. Các nhà văn tham gia Ban vận động thành lập Văn đoàn Độc lập đều không được tham dự Đại hội.
- Các cơ quan chức năng cũng đấu tranh không khoan nhượng với quan điểm sai trái trong một số tác phẩm “có vấn đề” như
– Truyện ngắn Linh nghiệm của tác giả Trần Huy Quang (tháng 7/1992).
-“Bóng đè” của Đỗ Hoàng Diệu (2005),
– Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn,
– Đình chỉ phát hành cuốn Mối chúa của Đãng Khấu (Tạ Duy Anh. 2017),…
- Hãy quan sát cuộc tranh luận trên các diễn đàn cuối năm 2025 về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh được Bộ Văn hóa tôn vinh [[4]]. Đây là ý kiến của Thiếu tướng, anh hùng LLVTND Hoàng Kiên: “Tôi đã xem bài viết và điện thoại trao đổi trực tiếp với Trung tướng Nguyễn Thanh Tuấn, GS.TS Nguyen Canh Toan, bài viết của Trung tướng Nguyễn Quốc Thước. Xem nhiều bài viết trên mạng xã hội, phần lớn là phê phán phản đối, chỉ một số bài bảo vệ của các vị lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam – Nguyễn Quang Thiều, Trần Đăng Khoa và mấy nhà văn nhà báo có phần nói láo”. Và dưới áp lực của công luận, Bảo Ninh đã phải xin rút lại tác phẩm đã được vinh danh.
Như vậy, có thể khẳng định rằng, tiêu chí tiên quyết để đánh giá Văn học Việt Nam giai đoạn 1975-2025 là phẩm chất chính trị của tác giả và tác phẩm. Tiêu chí này cũng là tiêu chí hàng đầu của các nhà xuất bản, của Cục xuất bản khi thẩm định tác phẩm để cấp phép xuất bản.
Về phẩm chất, Văn học Việt giai đoạn 1975-2025 là một nền Văn học cách mạng. Thành tựu lớn nhất của văn học 1975-2025 là góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ đất nước tiến hành công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế; góp phần góp phần làm phong phú gia tài văn hóa, gia tài văn học Việt Nam.
Cần có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể những giá trị của văn học 1975-2025 trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Bởi giai đoạn này có ba dòng văn học với những đặc điểm tư tưởng và thi pháp khác nhau, nên mối quan hệ của văn học với hiện thực không giống nhau. Thí dụ, “Văn chương thị trường” hướng đến đáp ứng thị hiếu công chúng thị trường và có mục đích giải trí. Nó không thực hiện nhiệm vụ cách mạng.
Đặc điểm 2: MỘT NỀN VĂN HỌC ĐỔI MỚI
Đúng là, nếu chỉ đánh giá văn học về việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, thì sẽ không nhìn thấy những giá trị văn học, sự sáng tạo, sự độc đáo mới mẻ của văn học 1975-2025 trong sự phát triển lịch sử; càng không nhận ra sự đóng góp của văn học vào việc xây dựng văn hóa, xây dựng nhân cách con người Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng Xã hội chủ nghĩa. Văn học còn có những trách nhiệm khác. Những dân tộc lớn trên thế giới đều có một nền văn học lớn.
Vậy sự khác biệt của văn học 1975-2025 với giai đoạn văn học trước đó là gì?
Điều dễ nhận thấy và dễ lý giải là: Văn học 1975-2025 là một nền văn học đổi mới, tiến trình đổi mới diễn ra liên tục. Đến nay nhiều nhà văn vẫn tiếp tục tìm tòi sáng tạo.
Khi đất nước chuyển từ chiến tranh sang hòa bình, thống nhất; đời sống chính trị-kinh tế-xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa; Việt Nam mở cửa làm bạn và hội nhập với thế giới; các cuộc cách mạng công nghiệp làm thay đổi đời sống người dân; các trào lưu tư tưởng, văn hóa tràn vào nước ta làm thay đổi nhãn quan về hiện thực; những thế hệ công chúng văn học mới xuất hiện,.. Thực tiễn ấy đòi hỏi sáng tác văn chương không thể viết như trước. Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn đáp ứng những yêu cầu phản ánh hiện thực mới.
Tức là có một nhu cầu đổi mới trong nội tại của văn học.
Sự đổi mới bắt đầu từ ý thức sáng tạo.
Văn học kháng chiến được viết bằng ý thức sáng tác của Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa, cốt lõi là “Tính Đảng”, phản ánh hiện thực kháng chiến, khắc họa những nhân vật anh hùng, miêu tả cái cao cả, đề cao “Cái Ta” chung, thể hiện tình cảm công dân, lấy văn hóa cộng đồng và lý tưởng yêu nước làm làm nền tảng tư tưởng, văn học tập trung giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.
Sự đổi mới diễn ra khi nhà văn rời bỏ Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa, và tìm tòi những kiểu sáng tác mới. Điều này được Đảng khuyến khích: Nghị quyết Trung ương V đã mở ra một cánh cửa rất rộng cho sáng tạo: “Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng.”
Có cả một trào lưu cách tân thơ Việt đầu thế kỷ XXI, người làm thơ viết các kiểu thơ mới như Thơ Siêu Thực, thơ Tân Hình thức, thơ Hiện sinh, thơ Namkau (Trần Quang Quý), thơ 1,2,3 (Phan Hoàng) và thơ Hậu hiện đại. Thơ Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Trần Quang Quý, Văn Cầm Hải, Nguyễn Vĩnh Tiến, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, Vy Thùy Linh… khác rất xa về tư tưởng-thẩm mỹ và thi pháp với thơ Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Nguyễn Duy… trong dòng thơ chống Mỹ ở giai đoạn trước.
Truyện ngắn, và tiểu thuyết cũng tìm kiếm những con đường rộng mở cho sự sáng tạo. Các tác giả viết tiểu thuyết vận dụng thủ pháp của nhiều khuynh hướng tiểu thuyết thế giới, như tiểu thuyết Hiện sinh, Hiện thực huyền ảo, Tiểu thuyết mới, các thủ pháp Hậu hiện đại (xin đọc: Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Danh Lam, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư…)
Những tìm tòi sáng tạo mới mẻ này gây sốc cho việc tiếp nhận của công chúng văn học, từ đó tạo nên những tranh cãi rất ồn ào. Chẳng hạn, tranh cãi về thơ cách tân, tranh cãi về truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh,..
Đã có khác biệt rất lớn cả về tư tưởng, nội dung và thi pháp của tiểu thuyết viết về chiến tranh giữa các tác phẩm: Hòn Đất (1966) của Anh Đức, Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (1987), Con chim Jong bay từ A tới Z của Đỗ Tiến Thụy (2017) và Từ giờ thức sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một (2023).
Nguyễn Ngọc Tư đổi mới ngòi bút liên tục từ Cánh đồng bất tận đến Biên sử nước…
Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 của Trần Mai Hạnh (2014) là sự thể nghiệm của tiểu thuyết tư liệu.Tiểu thuyết Ngược mặt trời của Nguyễn Một được tác giả gọi là “tiểu thuyết rời rạc”. Khôi Vũ viết tiểu thuyết Lời nguyền hai trăm năm theo một cấu trúc song tuyến ngược chiều.
Về lý luận phê bình [[5]], đã có những đánh giá lại Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa và giới thiệu các lý thuyết văn học và các phương pháp phê bình mới; đồng thời các nhà nghiên cứu, giới học thuật cũng nỗ lực xây dựng một hệ thống Lý thuyết văn học và Phê bình văn học, hệ thống giá trị Việt cho văn học.
Song nỗ lực này bất thành. Đơn giản là vì, Đảng đã khẳng định Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Và, vì thế, không thể kết hợp những quan điểm về văn học nghệ thuật của chủ nghĩa Marx với các hệ thống tư tưởng mỹ học khác đã có trong văn học dân tộc như: ý thức “Văn dĩ tải đạo” của văn học thời Phong kiến; Chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa Siêu thực giai đoạn 1930-1945, Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội chủ nghĩa trong văn học kháng chiến, và các trào lưu tư tưởng Tư sản (Chủ nghĩa Cấu trúc, Chủ nghĩa Hậu Hiện đại). Chẳng hạn, đã có thời ở Việt Nam, Chủ nghĩa Cấu trúc bị chống đối quyết liệt, vì nó muốn thay thế chủ nghĩa Marx; và gần đây, Chủ nghĩa Hậu Hiện đại bị phản đối mạnh mẽ, bởi đó là trào lưu tư tưởng đa nguyên chính trị, chủ trương lật đổ những ”Đại tự sự”, “giải thiêng” những tín niệm…Nhiều tranh cãi nổ ra do mục đích “giải thiêng” của tác giả (Thí dụ, tranh cãi về Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu. Nxb Đà Nẵng 2005…)
Dù sao, cho đến nay, các lý thuyết văn học và phê bình văn học trên thế giới thế kỷ XX đều đã được giới thiệu ở Việt Nam (xin đọc: Phê bình văn học thế kỷ XX của Thụy Khuê. Nxb HNV 2017). Nhưng không một lý thuyết nào đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của việc tiếp nhận và đánh giá văn học Việt.
GS Trần Đình Sử, một chuyên gia đầu ngành, người cổ vũ cho việc vận dụng Thi pháp học vào nghiên cứu văn học Việt, ông thường mượn Bakhtin để đòi “xét lại tất cả, không trừ một chỗ nào, mọi nguyên lí, định lí, nguyên tắc, phương pháp, nhận định, khái niệm…”, “phải viết lại văn học sử, viết lại lí luận, đọc lại người trước với tinh thần khoa học…” Nhưng ông thú nhận: “Tôi là một tội đồ đã reo rắc bao nhiêu sai lầm cho bao nhiêu thế hệ sinh viên học sinh…”[[6]]
Đa số công chúng Việt vẫn còn đọc văn học theo “Phản ánh luận”. Họ xem xét giá trị phản ánh hiện thực và đánh giá văn học theo tiêu chí chính trị (thể hiện quan điểm của Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị). Điều này là kết quả việc học Lý luận văn học Marxist trong chương trình Văn ở trường Phổ thông. Những tranh cãi trên văn đàn là cuộc đấu tranh tư tưởng. Một bên là người đọc theo quan điểm Marxist của Đảng, một bên là những người theo quan điểm Tư sản phương tây. Xin lưu ý rằng, ở Việt Nam, Văn học Cách mạng là nền văn học có ý thức. Là sự chọn lý tưởng của nhà văn dấn thân phục vụ cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân. Văn học là một bộ phận của sự nghiệp Cách mạng (quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lê nin).
Những cuộc “đấu tranh tư tưởng” trong văn học nghệ thuật như thế thường khiến cho nhà văn phải chịu cảnh “lên bờ xuống ruộng”(Chữ của Nguyễn Mạnh Tuấn). Tiểu thuyết Chuyện Ngõ nghèo (1981) của Nguyễn Xuân Khánh; tiểu thuyết Cù Lao Chàm (1985) của Nguyễn Mạnh Tuấn; truyện vừa Cánh đồng bất tận (1988) của Nguyễn Ngọc Tư và Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (xuất bản năm 2000), là những trường trường hợp cụ thể.
GIÁ TRỊ CỦA NHỮNG NỖ LỰC CÁCH TÂN
Những nỗ lực cách tân, những đổi mới về tư tưởng-thầm mỹ và thi pháp ấy đã góp phần tạo nên diện mạo riêng, khác biệt và mới lạ của văn học 1975-2025 so với Văn học kháng chiến trước đó. Nhờ vậy, làm phong phú kho tàng văn học Việt, mở ra nhiều hướng để hội nhập với văn học thế giới.
Đã có những thành công nhất định như phong trào Thơ Trẻ đầu thế kỷ XXI. Những cách viết mới mẻ trong văn xuôi được thử nghiệm. Việc tiếp nhận văn học rộng mở và dân chủ hơn, bầu trời dành cho sáng tác, in ấn, phổ biến tác phẩm thông thoáng hơn.
Tuy vậy văn học đã không phát triển thành những trào lưu tư tưởng–nghệ thuật có ảnh hưởng sâu rộng, mới chỉ dừng lại ở mức thử nghiệm. Việc tiếp thu các lý thuyết văn học nước ngoài ở cả giới nghiên cứu và sáng tác nhiều khi có sự nhiễu loạn, sai lạc. Xin đọc các chuyên luận của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình trên các diễn đàn về Phân Tâm học, về Hậu Hiện đại (Postmodern), về Lý thuyết trò chơi (Game Theory)…sẽ thấy những sai biệt về diễn giải các nội hạm có tính lý luận khi đem áp dụng vào thực tiễn phê bình văn học Việt Nam.
Và cho đến nay Hội đồng Lý luận, Phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương chưa xác lập được một hệ thống lý luận văn học Việt. Trong thực tế vẫn có sự pha trộn các lý thuyết văn học Liên Xô (lớp nhà nghiên cứu được đào tạo ờ Liên xô cũ) và các lý thuyết Phương tây (đã xuất hiện ở miền Nam trước 1975), vì thế nhiều khi khập khiễng.
GS Trần Đình Sử, một nhà nghiên cứu văn học hàng đầu, khởi đi từ Thi Pháp học, đến cuối đời, đã tự nhận xét mình lầm lạc: “Tôi là một tội đồ đã reo rắc bao nhiêu sai lầm cho bao nhiêu thế hệ sinh viên học sinh. Tôi muốn làm một việc gì đó, để sửa sai cho mình, trước hết được nói ở trong cuốn sách này” (phát biểu trong tọa đàm Trần Đình Sử trên đường biên của lí luận văn học” chiều 23/1/2015 do Khoa Viết văn báo chí, Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức.)
Đa số người làm thơ sau những thử nghiệm cách tân, đã trở lại với thơ truyền thống. Những tác giả cách tân thành công đầu thế kỷ XXI (Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly, Vy Thùy Linh, Nhóm “Ngựa trời” gồm Khương Hà, Thanh Xuân, Lynh Bacardi, Phương Lan và Nguyệt Phạm …) giờ đã chững lại. Ngày nay đọc lại, thơ cách tân đầu thế kỷ XXI, cả những “cách tân “ làm “Thơ không thơ”, nhiều bài chỉ “cách tân” về hình thức ngôn từ. Nội dung khó hiểu và rỗng, rất xa lạ với công chúng. Thơ “cách tân” chỉ là một thứ nhãn hiệu triển lãm chữ nghĩa.
Các lý thuyết văn học du nhập vào Việt Nam đã trở nên bão hòa, các diễn đàn văn học sau những ồn ào đầu thế kỷ XXI, giờ đã im ắng. Không có tác giả nào, tác phẩm nào neo đậu được vào lòng người đọc như thơ truyền thống.
Có một nhận định chung là, chưa có tác phẩm đỉnh cao ngang tầm với văn học thế giới, tương xứng với vị thế của Việt Nam trong cộng đồng nhân loại năm 2025. Đây đó có ý kiến về giải Nobel văn chương cho Việt Nam, nhưng đó là ước mơ của thế hệ tương lai.
***
Cần nhận thức rằng, hai đặc điểm Cách mạng và đổi mới của văn học 1975-2025 là hai đặc điểm riêng biệt song xuyên thấm vào nhau, vừa là ý thức vừa là thành tựu. Cách mạng nhưng đổi mới, và dù đổi mới thế nào vẫn giữ phẩm chất cách mạng.
Chẳng hạn Văn học kháng chiến được sáng tác chủ yếu bằng phương pháp “tả thực xã hội chủ nghĩa”, lấy “tính Đảng” làm cốt lõi, khác hẳn với văn học trước 1945 được sáng tác bằng ý thức nghệ thuật tư sản (chủ nghĩa Lãng mạn…). Văn học 1975-2025, không chỉ đi tiếp con đường của chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa, song trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mở rộng tiếp thu thành tựu của các trào lưu khác, đồng thời đấu tranh với những quan điểm sai trái với quan điểm cách mạng.
Đây là đánh giá của Đảng về những thành tựu của văn học nghệ thuật:
“– Nhìn tổng thể, văn học, nghệ thuật đã nắm bắt được dòng mạch chính là chủ nghĩa yêu nước và nhân văn, gắn bó với dân tộc, nỗ lực phản ánh chân thật cuộc sống đấu tranh cách mạng và lao động sáng tạo của nhân dân, có nhiều tác phẩm tốt trong tất cả các loại hình nghệ thuật từ văn học, sân khấu, điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật đến nhiếp ảnh, múa, kiến trúc… thể hiện qua những đề tài lịch sử, chiến tranh cách mạng và những vấn đề thời sự của đất nước. Chủ nghĩa nhân văn, phẩm chất nhân đạo được phát huy và đề cao. Văn học, nghệ thuật đã cố gắng phát hiện, khẳng định các nhân tố mới, tham gia cuộc đấu tranh lên án cái xấu, cái ác, sự biến chất, thoái hoá về nhân cách, đời sống và đạo đức trong một bộ phận xã hội. Tự do trong sáng tạo nghệ thuật và sự đa dạng về nội dung, phong cách sáng tác, phương thức biểu hiện được tôn trọng; dấu ấn cá nhân, cá tính sáng tạo được khẳng định…
… Sự xuất hiện lực lượng sáng tác trẻ với những khả năng sáng tạo và sự đa dạng về phong cách là dấu hiệu mới đáng trân trọng. Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển; nhiều câu lạc bộ văn học, nghệ thuật ra đời, góp phần cổ vũ, động viên quần chúng sáng tạo, khai thác, truyền bá các giá trị nghệ thuật cổ truyền và thưởng thức văn học, nghệ thuật, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân ở cơ sở.
– Công tác lý luận văn học, nghệ thuật có bước đổi mới, lý giải khoa học hơn quan hệ giữa văn học, nghệ thuật với chính trị, giữa hiện thực và nghệ thuật. Tư tưởng văn học, nghệ thuật truyền thống của cha ông được quan tâm nghiên cứu. Các thành tựu văn học, nghệ thuật thế kỷ XX được đánh giá lại thoả đáng. Một số phương pháp nghiên cứu văn học, nghệ thuật phi truyền thống được vận dụng, bước đầu đem lại kết quả tốt. Phê bình văn học, nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới có tác dụng tích cực đối với sáng tác, phát hiện cái tốt, ủng hộ cái mới, tiến bộ trong hoạt động sáng tạo.
– Đội ngũ văn nghệ sĩ được hình thành, phát triển và rèn luyện trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, là lực lượng tin cậy, trung thành của đất nước, của Đảng và nhân dân, có lòng yêu nước nồng nàn, tự hào dân tộc, tâm huyết với nghề nghiệp, xứng đáng với danh hiệu cao quý nghệ sĩ – chiến sĩ, là lực lượng nòng cốt trực tiếp tạo nên nền văn học, nghệ thuật cách mạng của dân tộc trong thời kỳ mới. Hiện nay, đội ngũ này gồm nhiều thế hệ nối tiếp và gắn bó với nhau
– Tư duy lý luận và quan điểm của Đảng về văn học, nghệ thuật tiếp tục đổi mới, bổ sung, phát triển, góp phần cổ vũ, khích lệ, tạo niềm tin cho văn nghệ sĩ. Các cấp uỷ đảng có nhiều cố gắng theo sát thực tiễn văn nghệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và tìm tòi các phương thức chỉ đạo phù hợp, thiết thực.
Các hội văn học, nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương tiếp tục giữ vững định hướng chính trị, cố gắng tập hợp, đoàn kết đội ngũ, đẩy mạnh hoạt động sáng tạo.” (Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị ngày 16/6/2008)
PHẦN II: DIỆN MẠO CỦA VĂN HỌC 1975-2025
Diện mạo là khuôn mặt, là những gì nhìn thấy được.
Cho đến nay, văn học Việt đang phát triển thành 3 dòng chính là: Văn học Cách mạng và kháng chiến, Văn học Nhân văn-dân chủ và Văn chương thị trường.
1.Văn học Cách mạng và kháng chiến
“Văn học Cách mạng và Kháng chiến” là dòng chủ đạo, do Đảng lãnh đạo trực tiếp, và Nhà nước đầu tư, quản lý. Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương, là “tổ chức chính trị – xã hội – nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”(NQ 23).
Hội Nhà văn Việt Nam hiện có trên 1.210 hội viên[[7]]. Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam có trên 5.400 hội viên trong cả nước (tính đến năm 2025). Ở mỗi tỉnh, Hội Văn học nghệ thuật có hàng trăm hội viên.Thí dụ. Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh có gần 400 hội viên. Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai có 600 hội viên (thuộc 12 chuyên ngành)
Nội dung của Văn học Cách mạng và kháng chiến viết về cách mạng Việt Nam, về 30 năm kháng chiến vừa qua, về biển đảo, về “học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, về hội nhập và phát triển, về nông thôn mới, về công nhân; viết cho thiếu nhi, viết về các dân tộc ít người, viết về các ngành nghề (thí dụ, đề tài giao thông vận tải, ngân hàng…). .
Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương tổ chức nhiều hoạt động văn học bằng nguồn kinh phí Nhà nước như: in báo và tạp chí hàng tháng, kết nạp hội viên mới, tổ chức các cuộc thi và trao giải thưởng, tổ chức các trại sáng tác, các hội thảo văn học…mục đích là để bồi dưỡng nhà văn, tìm kiếm tác phẩm giá trị và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ chính trị.
Số lượng tác phẩm của Văn học Cách mạng và kháng chiến là một kho tàng đồ sộ [[8]], phản ánh được rất rộng hiện thực cách mạng trong cả nước, là tiếng nói khẳng định những thành tựu cách mạng. Bởi vì nhiệm vụ của Văn học Cách mạng và kháng chiến là:
“…phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc”(Nghị quyết Trung ương V)
Nhiều nhà văn đã được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, Giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Hội Nhà văn.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Miền cháy (Nguyễn Minh Châu 1977), Đất Trắng (Nguyễn Trọng Oánh 1979), Năm 1975 họ đã sống như thế (Nguyễn Trí Huân 1979), Đại tá không biết đùa (Lê Lựu 1990), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai 1991), Không phải trò đùa (Khuất Quang Thụy 1999), Thời của những tiên tri giả (Nguyễn Viện- 1999), Màu rừng ruộng (Đỗ Tiến Thụy 2006), Sống khó hơn là chết (Trung Trung Đỉnh 2008), Thế giới xô lệch (Bích Ngân 2009), Mình và họ (Nguyễn Bình Phương 2014), Miền hoang (Sương Nguyệt Minh 2014), Xác phàm (Nguyễn Đình Tú 2014), Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (Trần Mai Hạnh 2014), Trung – Việt, Việt – Trung (Đỗ Quyên 2017), Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (Nguyễn Một 2023)…
2.Văn học “Nhân văn-dân chủ”
Khi đất nước bước vào giai đoạn “Đổi mới”, Văn học “Nhân văn-dân chủ”có cơ hội phát triển. Đặc điểm tư tưởng và thi pháp của dòng văn học này là sự rời bỏ hẳn Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, để phản ánh phần “hiện thực không cách mạng”. Nhiều tác phẩm được viết với cảm hứng phê phán.
Có thể kể đến: Đứng trước biển (1982), Cù lao Tràm (1985 – Nguyễn Mạnh Tuấn), Thời xa vắng (1984 – Lê Lựu), Thiên sứ (1989 – Phạm Thị Hoài) truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp (Tướng về hưu – 1987), Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu Bảo Ninh -1987), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Cánh đồng bất tận (2005 – Nguyễn Ngọc Tư), Ba người khác (2006 -Tô Hoài), Thời của thánh thần (2008 – Hoàng Minh Tường), Mối chúa (Đãng Khấu – 2017), Kiến, Chuột và Ruồi (Nguyễn Quang Lập – 2019) …
Có những đánh giá trái chiều về dòng văn học này, chẳng hạn truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…
Văn học Nhân văn-dân chủ khá phong phú về đề tài: về Cải cách ruộng đất, về cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền bắc, về những mặt trái của chiến tranh, những bất công xã hội, những tha hóa đạo đức khi đất nước chuyển sang Kinh tế thị trường…
Nhãn quan hiện thực của các tác giả khác với quan điểm nghệ thuật của Đảng. Vì thế, có tác phẩm đã bị Cục xuất bản đình chỉ phát hành vì vi phạ, Luật xuất bản. Nhà văn Tô Hoài cho biết, phải mất 17 năm ông mới xuất bản được tiểu thuyết Ba người khác (1992) viết về Cải cách ruộng đất. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh xuất bản lần đầu năm 1990, và từ đó đến nay không ngừng tranh cãi. Các tác phẩm của Dương Thu Hương như Bên kia bờ ảo vọng (1987) và Những thiên đường mù (1988) không được phép lưu hành ở Việt Nam vì tác giả có quan điểm chính trị chống lại Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Vì thế, cho đến nay, chưa có sự đánh giá nhất quán về dòng văn học này.
Điều ngạc nhiên là, trong số 50 tác phẩm được Bộ Văn hóa vinh danh, có nhiều tác phẩm thuộc dòng văn học này: đó là các tác phẩm: Mảnh đất lắm người nhiều ma (tiểu thuyết, Nguyễn Khắc Trường), Thời xa vắng (tiểu thuyết, Lê Lựu), Bến không chồng (tiểu thuyết, Dương Hướng), Những người đi tới biển (trường ca, Thanh Thảo), Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, Ma Văn Kháng), Cỏ lau (truyện, Nguyễn Minh Châu), Con gái thủy thần (tập truyện, Nguyễn Huy Thiệp), Cánh đồng bất tận (tập truyện, Nguyễn Ngọc Tư)…[[9]]
Song xin lưu ý rằng, dòng văn học này cũng là một thành tựu của văn học Việt 1975-2025.
- “Văn chương thị trường”
“Văn chương thị trường” là dòng văn học phát sinh trong cơ chế thị trường, vận động theo quy luật thị trường, phản ánh đời sống một bộ phận người trẻ và đáp ứng thị hiếu của họ.
Thực ra, văn chương Việt Nam trước 1945 đã là văn chương thị trường. Văn học miền
Nam trước 1975 cũng là văn chương thị trường. Trong thị trường, nhà văn viết tác phẩm để kiếm sống. Ngoài mục đích diễn ngôn, tác giả còn tập trung khai thác thị hiếu của người đọc, dùng nhiều thủ thuật viết lách để “câu khách” (ngày nay là câu view).
Văn chương thị trường trước 1975 có nhiều lọai: truyện trinh thám, truyện đường rừng, truyện phiêu lưu mạo hiểm, truyện kiếm hiệp, truyện tình cảm, truyện viễn tưởng và cả truyện khiêu dâm…Thí dụ truyện đường rừng của Lan Khai (1906-1945), truyện phiêu lưu đường rừng của Lý Văn Sâm (1921-2000), truyện kiếm hiệp của Kim Dung (truyện dịch), truyện tình của Quỳnh Dao (truyện dịch); các tiểu thuyết Yêu, Ghen, Loạn, Sống, Tiền của Chu Tử (1917-1975); truyện tình cảm của Bà Tùng Long (1915-2006): Bóng người xưa, Đời con gái, Một lần lầm lỡ, Mẹ chồng nàng dâu, Nẻo về tình yêu. Duyên Anh (1935-1997) viết nhiều truyện về học trò và xã hội dưới đáy: Điệu ru nước mắt, Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang, Ngày xưa còn bé, Lứa tuổi thích ô mai, Ngựa chứng trong sân trường…
Văn chương thị trường giai đoạn 1975-2025 có những giá trị nhất định về nghệ thuật, song chủ yếu hướng đến việc giải trí. Xin đọc Nguyễn Nhật Ánh, Phan Hồn Nhiên, Dương Thụy (tác phẩm của Dương Thụy thuộc loại best seller: Oxford yêu thương. 2007; Nhắm mắt thấy Paris. 2010; Cung đường vàng nắng. 2012). Nhiều tác giả trực tiếp phô diễn Cái Tôi của người trẻ hôm nay, đồng thời học theo xu hướng Văn chương thị trường nước ngoài. Vì thế, Văn chương thị trường hàm chứa trong nó không ít yếu tố tiêu cực khi tác giả viết quá đà về chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng và về những yếu tố đồi truỵ của văn hóa phương tây, chẳng hạn: sex, bạo lực, đồng tính… Những nội dung như vậy hoàn toàn trái với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Đã có lúc tràn lan trên thị trường loại truyện ngôn tình, chuyện sex vô luân, những truyện đồi trụy, đến nỗi những người có trách nhiệm phải lên tiếng báo động. Song đến nay rất nhiều những cuốn sách đồi trụy vẫn lan truyền trên Internet.
Có thể nhắc đến các tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh, Dương Thụy, Phan Hồn Nhiên, Hamlet Trương viết cùng với Iris Cao; Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu); I am đàn bà (Y Ban), Điếm trai (Thủy Anna), Dị bản (Keng), Nháp (Nguyễn Đình Tú), Một thế giới không có đàn bà (Bùi Anh Tấn), Song song (Vũ Đình Giang). 50 sắc thái (50 shades of Grey)…Điên cuồng như Vệ Tuệ – (Sơn Lê dịch); Bảo bối Thượng Hải (Xuân Oanh dịch); Xin lỗi, em chỉ là con đĩ (Tào Đình – Trang Hạ dịch); Lỡ tay chạm ngực con gái (Oni – Trang Hạ dịch), Hễ sướng thì hét lên (Trì Lợi – Trần Trúc Ly dịch), Nắm tay và làm tình (Nữ Vương – Trang Hạ dịch), Động phòng hoa chúc sát vách (Diệp Lạc Vô Tâm – Nguyễn Thị Thại dịch)…
Dòng văn học này không được giới nghiên cứu quan tâm bởi nó không phải là tiếng nói chính thức, có trách nhiệm của thời đại.
Quan sát văn chương thị trường trước 1945, và trước 1975 ở miền Nam, đến nay có tác giả, tác phẩm nào còn đứng được? Nhà văn Lê Văn Trương (1906-1964) là người được xem là viết nhiều tiểu thuyết (người ta thống kê được 125 tác phẩm), nhưng đến nay, giới nghiên cứu và bạn đọc nhắc đến Nam Cao nhiều hơn là biết đến ông. Cũng vậy, tiểu thuyết của Bà Tùng Long, truyện tình yêu của Quỳnh Dao (truyện dịch), truyện Kiếm hiệp của Kim Dung (truyện dịch) cũng chỉ đọc để giài trí.
***
Những hạn chế của Văn học 1975-2025 được Nghị quyết 23 đánh giá:
“Số lượng tác phẩm ngày càng nhiều song còn ít tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội – thẩm mỹ không rõ nét, ý nghĩa xã hội còn hạn hẹp. Một số văn nghệ sĩ còn hạn chế trong tiếp cận và nhận thức những vấn đề mới của cuộc sống, chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa, chiều sâu và tính phức tạp của quá trình chuyển biến mang tính lịch sử trong thời kỳ mới của đất nước… “
Nhìn lại quá trình phát triển của 3 dòng văn học giai đoạn 1975-2025, ta có thể rút ra một vài điều.
Văn học Cách mạng và Kháng chiến là thành tựu chính của văn học Việt Nam 1975-2025. Dòng văn học này được Nhà nước đầu tư. Lực lượng viết dồi dào, gồm các nhà văn từ kháng chiến bước ra, đầy ắp vốn sống và các nhà văn trưởng thành từ sau ngày đất nước thống nhất, trải qua nhiều biến đổi lịch sử (từ đời sống bao cấp sang kinh tế thị trường, “Đổi mới” và hội nhập toàn cầu hóa). Đến nay, lực lượng này đã rời văn đàn (vì tuổi tác), vì thế dòng văn học này sẽ gặp khó trong tương lai.
Dòng Văn học Nhân văn-Dân chủ có nhiều tác phẩm gây được sự chú ý của công chúng khi đặt vấn đề trách nhiệm với hiện thực của một thời, mà văn học của thời ấy chưa có điều kiện lên tiếng (Cải cách ruộng đất, những khó khăn trước đổi mới, những biến động của xã hội Việt Nam khi chuyển sang Kinh tế thị trường…). Dòng văn học này nở rộ thời kỳ “đổi mới” (1986-2000), bởi nó không viết bằng Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa, nên có vẻ “mới lạ” với văn học Việt (Thời xa vắng của Lê Lựu. 1986; Tướng về hưu là truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp- in trên báo Văn nghệ 1987; Thiên Sứ của Phạm Thị Hoài. 1988, …). Đến nay, Văn học Nhân văn-Dân chủ đã cạn đề tài “ăn khách” (thí dụ: đề tài Cải cách ruộng đất, chống tham nhũng). Sau những Mối Chúa (Đãng Khấu 2017), Kiến Chuột và Ruồi (Nguyễn Quang Lập 2018), dòng văn học này không còn sức hấp dẫn. Thực ra tiểu thuyết viết về chống tiêu cực trong xã hội không thể sánh được với báo chí. Nhà báo thông tin nhanh hơn, họ có nhiều nguồn thông tin. Tiểu thuyết kể lại những sự việc đã qua đi, trong khi nhiều vụ việc mới ập tới, thì sẽ không còn ai muốn đọc tin cũ nữa.
Văn chương thị trường (cả sách in và báo điện tử) đã phát triển mạnh mẽ. Một số cây bút của dòng văn học này được công chúng trẻ yêu thích. Văn chương thị trường (có người gọi là Văn học đại chúng) liên quan mật thiết với Thị trường sách văn học mà phần lớn là sách dịch. Có tác phẩm đạt giải Nobel văn chương, tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng thế giới, và đủ mọi loại sách cho mọi đối tượng, kể cả Ngôn tình và đầy dẫy sách tính dục (sex) …Nhìn chung, Văn chương thị trường hướng đến đáp ứng mọi thị hiếu và nhu cầu giải trí cùa người đọc. Mục đích kinh doanh luôn là yếu tố quyết định của việc xuất bản sách thị trường. Tác phẩm thị trường được đánh giá theo số lượng bản in, số view của độc giả. Thí dụ Năm 2007: tiểu thuyết Oxford thương yêu của Dương Thụy (Nhà xuất bản Trẻ) là sách Best seller đã tái bản 14 lần, gần 55.000 bản in đã được bán ra.
Xin lưu ý rằng, có rất nhiều yếu tố độc hại về tư tưởng, đạo đức, văn hóa đối với người trẻ Việt trong các sách văn học dịch, đến nỗi đã có lúc công luận phải lên tiếng. Sự sụp đổ lý tưởng của người trẻ trong xã hội công nghiệp, sự băng hoại về đạo đức truyền thống, chất vô chính phủ trong tư tưởng, lối sống vô gia đình; và cả “phong trào 4 không”(không yêu, không kết hôn, không sinh con và không gia đình[[10]]) đều có nguồn gốc từ những tác phẩm vô luân của Văn chương thị trường.
PHẦN III: NHÌN VỀ TƯƠNG LAI
Từ những thành tựu và hạn chế của văn học 1975-2025, ta có thể phỏng đoán được gì về tương lai văn học Việt Nam?
Đó là điều viễn tưởng. Bởi vì, những năm sau 1975s, không ai có thể nhìn thấy con đường phát triển của văn học Việt Nam 1975-2025 như bây giờ. Sự phát triển ấy bị chi phối bởi thời đại (Bối cảnh chính trị- xã hội trong nước và thế giới), tùy thuộc vào quan điểm, đường lối, chính sách cùa Đảng và Nhà nước. Vấn đề là: thời gian tới có xuất hiện một lớp nhà văn tài năng mới hay không? Có một môi trường văn học phù hợp không để tạo nền cho văn học phát triển (công chúng văn học, việc in ấn, Luật xuất bản, công nghệ quảng bá, giao lưu văn học và truyền thông đa phương tiện…). Sự xuất hiện của công nghệ AI có thể làm đảo lộn đời sống văn học.
Đặc biệt là việc tinh gọn bộ máy hành chính của Nhà nước sẽ ảnh hưởng thế nào đến sự tồn tại và hoạt động của các Hội quần chúng do Đảng giao nhiệm vụ, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam?
Những dự báo sau đây đặt trên cơ chế tổ chức cũ và hoàn toàn là chủ quan:
- Văn học cách mạng và kháng chiến tiếp tục được đầu tư và phát triển.
Đảng đã đề ra nhiệm vụ:
“Phát triển sâu rộng văn nghệ quần chúng, đồng thời với tập trung xây dựng, phát triển văn học, nghệ thuật chuyên nghiệp” (Nghị quyết 23 BCT).
Hiện nay bộ phận “Văn nghệ quần chúng” đang ngày càng phát triển rộng khắp và có tính lấn át. Nhưng ngày càng có sự phàn nàn về chất lượng tư tưởng, nghệ thuật của bộ phận văn học này. Báo chí đăng thơ, truyện không chọn lọc, đa số chỉ làng nhàng, không sáng tạo. Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương kết nạp hội viên dễ dãi; rất ít hội viên mới được độc giả cả nước biết đến tài năng. Không thể tìm thấy những cây bút mới sánh được với Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Huy Thiệp…
Đã nhiều năm Hội Nhà văn đề ra mục tiêu sáng tạo những “tác phẩm đỉnh cao”, kết tinh những tác phẩm ngang tầm với dân tộc và thời đại, song đến nay, chúng ta vẫn phải chờ đợi, vì tài năng nghệ thuật luôn là của hiếm. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội nhà văn đã nhiều lần đánh giá:
“Tình trạng trung bình, làng nhàng là căn bệnh trầm kha nhất của văn học ta hiện nay không được phê phán đến nơi đến chốn” (tr. 20)
“Đội quân nghệ thuật hiện nay thật đông đảo. Nhưng nhìn thẳng vào sự thật, chúng ta thấy chất lượng không tương xứng với số lượng. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị khóa X báo động một nguy cơ có thật, đó là tình trạng nghiệp dư.(tr.69)
(xin đọc trong chuyên luận này: Bùi Công Thuấn-Bến văn và những vòng sóng – Hữu Thỉnh 2020)
Hiện nay (2026) thế hệ nhà văn của giai đoạn “đổi mới” đa số đã rời văn đàn (vì tuổi cao), lực lượng sáng tác của Văn học Cách mạng và Kháng chiến đã mai một. Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương vẫn hoạt động theo lối mòn cách đây 50 năm. Đó không phải là sinh hoạt của một Hội văn học mà Hội chỉ làm công việc của của một tổ chức hành chính, cồng kềnh.
Mô hình sinh hoạt văn học như thế không còn phù hợp với “Kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc. Rồi đây Nhà nước sẽ phải tìm kiếm một mô hình sinh hoạt khác cho Hội Nhà văn Việt Nam để Văn học Cách mạng và Kháng chiến có thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của Đảng đã đề ra trong các Nghị quyết..
2.Dòng văn học Nhân văn-dân chủ
Dòng văn học này khai thác vùng “hiện thực không cách mạng” của đời sống (thí dụ: Chuyện ngõ nghèo của Nguyễn Xuân Khánh, Mối chúa của Đãng Khấu…) đến nay đã cạn đề tài, đã nhạt về nội dung và không còn mấy người đọc. Vì công chúng trẻ hôm nay không bận tâm đến những vấn đề của “Thời xa vắng”(Lê Lưu), “Thời của thánh thần”(Hoàng Minh Tường. 2008), thời của Trư cuồng.
Văn học Nhân văn-dân chủ sẽ chuyển hướng khai thác những vùng “hiện thực không cách mạng” khác, chẳng hạn, hiện thực miền Nam trước 1975 (xin đọc Sông Luộc ở phương Nam của Khôi Vũ 2020; Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín của Nguyễn Một 2023), hoặc hiện thực hôm nay. Thí dụ Nguyễn Việt Hà viết về Hà Nội: Cơ hội của Chúa (2000); Khải huyền muộn (2009), Ba Ngôi của Người (2014); Thị dân tiểu thuyết (2018), Tuyệt không dấu vết (2023). Nếu vậy thì phẩm chất tư tưởng và nghệ thuật của dòng văn học “nhân văn-dân chủ” sẽ có những màu sắc khác.
- Văn chương thị trường
Sẽ có nhiều người trẻ tham gia dòng văn học này. Bởi nó đáp ứng thị hiếu và tâm trạng người trẻ hôm nay. Họ đang bị cuốn theo nhịp công nghiệp hóa. Họ bị chiếm ngự bằng nhiều đợt sóng xâm lăng văn hóa từ bên ngoài (vì họ thích cái mới, họ ngưỡng vọng phương tây). Năm 2014 đã có một đợt bùng nổ mạnh mẽ của văn chương thị trường (xin đọc bài “Dạo qua chợ sách” trong chuyên luận này).
Xu hướng chung của sự phát triển là: có sự chuyển hướng mạnh sang Văn chương thị trường dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Cả hai dòng “Văn học Cách mạng và kháng chiến”, “Văn học Nhân văn, dân chủ” rồi đây cũng sẽ đều hướng về thị trường và tìm đường hội nhập văn học thế giới, bởi vì sinh hoạt Văn học Nghệ thuật sẽ được xã hội hóa triệt để. Điều này sẽ chi phôi cách viết và những thông điệp gửi cho người trẻ.
Điều trăn trở lớn nhất mà văn học Việt phải trả lời là làm sao để “xây dựng nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, và sáng tác “những tác phẩm đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả đổi mới”
PHẦN IV: NHỮNG VẤN ĐỀ
- Vấn đề hàng đầu hiện nay là tài năng văn học.
Thế hệ viết văn 1975-2025 nhiều người đã rời văn đàn vì tuổi cao. Lực lượng sáng tác có thể bị đứt gãy.
Những tài năng trẻ hôm nay có ai sánh được với Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Trần Quang Quý, Ly Hoàng Ly thời đầu thế kỷ XXI?
“Văn nghệ quần chúng” phát triển rất rộng, rất hùng hậu, nhưng “Văn nghệ chuyên nghiệp” chưa được bổ sung những cây bút mới tài năng. Tác phẩm văn học về đề tài Cách mạng và kháng chiến ngày càng mỏng đi.
- Sự tụt hậu của văn học.
Nghị quyết 23 BCT đề ra nhiệm vụ: “khuyến khích văn nghệ sĩ bám sát thực tiễn của đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại”
Hiện thực đất nước hiện nay đang phát triển vượt bậc, Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào thế giới, công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đạt được những thành tự to lớn sánh được thế giới ngưỡng mộ.
Nhưng không một tác phẩm văn học nào theo kịp để phản ánh được hiện thực ấy, không nhà văn Việt Nam nào có tư tưởng, tầm vóc một nhà văn thế giới. Đề tài, nội dung, tư tưởng vẫn chỉ quanh quẩn trong “cái ao làng”, như ngày nào (một thí dụ, thơ hôm nay vẫn ca ngợi cái nghèo, cái khổ của ngày xưa. Hình như “cái ngày xưa nghèo khổ” ấy mới đẹp, mới nên thơ; còn cuộc sống hôm nay không tạo được cảm xúc thẩm mỹ nào cho người sáng tác?)
Xin đọc
Đường Truông Tràm
Mẹ trồng những luống khoai lang
Nuôi con côi cút họ hàng mấy ai
Đường Truông những giọt sương mai
Đọng trên tóc mẹ ơn dài không quên
(Trần Vạn Giã)
- Chưa có một bộ Lịch sử văn học 1975-2025.
Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật trung ương, Hội Nhà Văn, Viện Văn học và giới nghiên cứu học thuật, đến nay chưa viết được bộ Lịch sử văn học 1975-2025, cũng chưa đúc kết được thành tựu của lý luận và phê bình văn học Việt Nam, và chưa xây dựng được hệ giá trị Việt để đánh giá văn học Việt.
Những công trình như thế, “văn nghệ quần chúng” không thể làm được.
Và khi chưa có những công trình chuẩn mực thì không thể định hướng phát triển văn học được.
- Các hoạt động văn học đi theo lối mòn
Các hoạt động văn học đi theo lối mòn đã quá lâu, trở thành lực cản cho sự phát triển văn học.
Thí dụ, các Hội VHNT địa phương phát triển rất rộng, tiêu tốn ngân sách không ít, nhưng nặng về tổ chức hành chính và thực hiện nhiệm vụ chính trị, không có cơ chế khuyến khích tài năng. Rất nhiều trại sáng tác được tổ chức, nhưng sau khi trại bế mạc, tác phẩm dự trại được cất vào kho lưu trữ, không một tác phẩm nào đóng góp được vào sự phát triển của văn học.
Thí dụ việc tổ chức Ngày Thơ Việt Nam. Những năm đầu, Ngày Thơ Việt Nam tạo được sự háo hức, tạo được một nét văn hóa mới trong sinh hoạt lễ hội của người Việt. Nhưng càng về sau, các Ngày thơ được tổ chức theo những chỉ thị hành chính, rất ít sáng tạo, công chúng ít quan tâm. Bởi cả nước tôn vinh Thơ, nhưng công chúng lại không tìm thấy thơ hay. Đã có những câu thơ dở được thả lên trời,…
Chủ trương hỗ trợ sáng tác là một chủ trương tốt. Nhà thơ Hữu Thỉnh, nguyên chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2020 trong Hội nghị văn học, đã đề ra phương châm “Mọi hoạt động của chúng ta đến tay hội viên, nhằm vào hội viên, “tất cả vì hội viên”.
Nhưng trong thực tế, hiệu quả của việc hỗ trợ ấy thế nào, các hội viên Hội Văn học Nghệ thuật địa phương và Hội viên Hội Nhà văn đều biết rõ.
Hầu hết nhà văn khi viết tác phẩm đều phải tự lực in ấn và phát hành.
Cứ xem nội dung các Hội nghị tổng kết công tác văn học hàng năm của Hội Nhà văn Việt Nam và các Hội Văn học Nghệ thuậ địa phương thì sẽ thấy rõ chất hành chính và sự lặp lại đến sơ cứng những hoạt động cũ mòn (tổ chức trại, tổ chức cuộc thi thơ văn, trao giải thưởng, hội thảo…nhưng không thấy làm thế nào để có “tác phẩm đỉnh cao”…).
- Hội Nhà văn Việt Nam, kết nạp hội viên, giải thưởng văn học
Hoạt động của Hội Nhà văn Việt Nam có vai trò quyết định đối với nền văn học 1975-2025. Điều này có thể nhận thấy rõ: văn học phát triển mạnh mẽ trong những năm tháng khó khăn, khi xã hội Việt Nam chuyển từ thời chiến sang thời bình (1975-1985), và đặc biệt khi Việt Nam mở cửa hội nhập với thế giới (1986-2010).
Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức thực hiện đường lối văn nghệ của Đảng. Đây là một tổ chức quần chúng trong lực lượng cách mạng làm nhiệm vụ chính trị. Hội Nhà văn Việt Nam đã khẳng định được bản lĩnh chính trị của mình trong lãnh đạo các hoạt động văn học. Điều này được ghi nhận trong việc tổ chức các kỳ Đại hội Nhà văn, tổ chức 4 lần Hội nghị Lý luận phê bình văn học; trong việc xử lý các hiện tượng văn học như: tiểu thuyết Cù lao Chàm của Nguyễn Mạnh Tuấn, Luận văn Đỗ Thị Thoan, những tranh cãi về Bóng đè, Cánh đồng bất tận, việc phục hồi cho các nhà văn trong vụ án Nhân văn Giai phầm, về Ban vận động thành lập Văn đoàn độc lập của nhà văn Nguyên Ngọc…
Hội hiện có trên 1200 hội viên, tất cả đều chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng, hoạt động rộng khắp mọi miền trong cả nước. Cùng với các Hội Văn học nghệ thuật địa phương, Hội Nhà văn đã phát triển được cả văn nghệ quần chúng và văn nghệ chuyên nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị, xây dựng được một nền văn học cách mạng phong phú, giàu có trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc. Nhìn toàn cảnh, có thể nhận thấy Hội Nhà văn Việt Nam là một thành tựu về tổ chức và hoạt động văn học suốt 50 năm qua.
Trong nhiệm kỳ 2020-2025, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam đã thành lập được nhiều Chi hội tại các tỉnh. Hoạt động của Ban Chấp hành năng động, sôi nổi, tạo được một bầu khí mới. Tuy nhiên các Chi hội hoạt động thế nào, có giúp cho việc sáng tác và quảng bá tác phẩm của hội viên hay không, cần phải có thời gian. Bởi vì Chi Hội Nhà văn không có kinh phí riêng, nếu phải dựa vào Hội Văn học Nghệ thuật địa phương thì chỉ thêm sự cồng kềnh.
Việc kết nạp hội viên Hội Nhà văn hàng năm, mỗi năm số hội viên được kết nạp đông đảo (là để bổ sung những nhà văn đã qua đời). Nhiều năm trở lại đây, có rất ít hội viên mới kết nạp có tác phẩm được công chúng văn học cả nước biết. Ai trong số họ có đóng góp mới mẻ vào sự phát triển văn học cả nước?
Tôi nghĩ, các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương là nơi tập hợp hoạt động “văn nghệ quần chúng”. Hội Nhà văn là một tổ chức chuyên nghiệp, hội viên phải là những nhà văn chuyên nghiệp, là những cây bút có đóng góp mới mẻ cho sự phát triển văn học. Tình trạng “nghiệp dư hóa” của văn học xuất phát từ việc kết nạp quá nhiều hội viên “văn nghệ quần chúng” vào Hội Nhà văn Việt Nam. Và số lượng tác phẩm tuy nhiều song đa số là tác phẩm phong trào, rất ít tác phẩm có sáng tạo đặc sắc, mới mẻ, độc đáo về tư tưởng và nghệ thuật.
Các nhà chính trị có thể chú ý đến văn nghệ quần chúng, bởi vì văn nghệ quần chúng phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị; song các nhà nghiên cứu Văn học sử sẽ chỉ chú ý đến những nhà văn có cốt cách, quan tâm đến những tác phẩm có đóng góp mới mẻ vào sự phát triển của văn học.
Vì thế Hội Nhà văn phải là nơi của những tài năng như Nguyễn Tuân, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Thiều, Lê Thành Nghị…
Để làm tốt việc phát triển văn học Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam phải có phương thức hoạt động mới. Phương thức hoạt động của Hội 50 năm qua là phương thức của 30 năm văn học thời kháng chiến. Nhà nước bao cấp hoàn toàn Văn học nghệ thuật, từ đây sinh ra hiện tượng nhiều người vào Hội để được “ăn theo” (chẳng hạn, được đi dự trại, được đặt hàng tác phẩm, được dự hội nghị và được tài trợ). Phương thức này đã không còn phù hợp với giai đoạn văn học mới. Bởi vì, thực chất, Hội Nhà Văn Việt Nam chỉ là một cơ quan hành chính, làm nhiệm vụ hành chính không hơn không kém. Xin xem các “Hội nghị Công tác văn học” hàng năm thì rõ [[11]].
Hiện nay (tháng 2/ 2026) Hội Nhà văn Việt Nam đã tạm thời ngưng cung cấp báo Văn nghệ và tạp chí Viết & Đọc cho Hội viên vì chưa có kinh phí. Ban Chấp Hành Hội cũng ngưng việc tổ chức Đại hội đại biểu Hội Nhà văn lần thứ XI, mặc dù trong năm 2025 đã tổ chức xong 11 đại hội cơ sở. Đó là những dấu chỉ cho sự chuyển đổi phương thức hoạt động mới của các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ [[12]].
Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có Kết luận Số 230-KL/TW ngày 05/01/2026 về “Đề án sắp xếp, tinh gọn các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ”. Việc chuyển đổi cụ thể là: “Các hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận; tuân thủ pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hướng dẫn, điều phối thống nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.”
Chưa rõ Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam và Ban Chấp hành các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương sẽ tinh gọn bộ máy và tổ chức hoạt động thế nào để thực hiện nguyên tắc “tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí…”
Về giải thưởng văn học, chỉ nên trao cho các tác phẩm có đóng góp mới mẻ cho sự phát triển văn học và thực sự có giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Trao giải cho những tác giả có phong cách độc đáo. 50 năm qua, việc trao giải cho tác phẩm văn học luôn có nhiều vấn đề tranh cãi. Chẳng hạn, gần đây, cuộc thi thơ báo Văn Nghệ 2019-2020 trao giải cao nhất cho bài thơ “Mẹ tôi chửi kẻ trộm” của Tống Văn Hân; và việc Bộ Văn hóa vinh danh 14 tác phẩm văn học trong đó có Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đã bị công luận phản đối gay gắt [[13]]
6.Văn học miền Nam, văn học hải ngoại
Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị ghi rõ: “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam…Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân”.
Nhưng cho đến nay, văn học của người Việt hải ngoại chưa được đưa “trở về nguồn”. Cũng vậy, văn học miền nam 1955-1975 có những đóng góp nào vào sự phát triển của văn học dân tộc cũng chưa được quan tâm.
Ngày 20/10/2017 tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức cuộc gặp mặt mang chủ đề: “Nhà văn với sứ mệnh đại đoàn kết dân tộc”. Có sự tham dự của 50 nhà văn tiêu biểu trong nước và 33 nhà văn người Việt sống tại 12 nước trên thế giới. Hội Nhà văn hy vọng cuộc gặp mặt lần này sẽ mở ra một trang mới đoàn kết tất cả tài năng văn học Việt Nam từ mọi chân trời, chung sức xây dựng một nền văn học Việt Nam không hổ thẹn với các bậc tiền nhân và sự mong đợi của hậu thế.
Nhưng từ đó đến nay đã 7 năm, Hội Nhà văn chưa tổ chức cuộc gặp mặt lần II.
PHẦN V: DỰ CẢM
1.Rồi đây, một thế hệ nhà văn mới sẽ xuất hiện, họ sẽ gánh vác nhiệm vụ đưa văn học Việt hội nhập với văn học thế giới.
Kinh nghiệm của những nhà văn Mỹ gốc Việt (thí dụ Monique Truong, Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương), hoặc nhà văn hải ngoại gốc Việt khác sống và viết ở Pháp, Canada, Úc (Linda Lê, Thuận, Anna Moi…) sẽ tiếp sức cho họ.
Nhưng chúng ta còn phải chờ một vài thế hệ nữa.
- “Văn nghệ quần chúng” trong tương lai.
Trong xu thế tinh gọn bộ máy của Nhà nước, thì Văn học Nghệ thuật của quần chúng sẽ được trả lại cho quần chúng: “Các Hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận ; tuân thủ pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước, và hướng dẫn điều phối thống nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “ (Kết luận số 230-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban bí thư, ngày 05/01/2026).
Văn nghệ quần chúng sẽ hoạt động theo hình thức Câu lạc bộ. Thí dụ hiện nay có Câu lạc bộ Thơ Việt Nam có 11.878 hội viên trên toàn quốc; Hội Thơ Đường luật Việt Nam (ra đời năm 2005, có hơn 2.500 hội viên thuộc gần 80 Hội cơ sở trong cả nước), Hội thơ làng Chùa…
Khi một bộ phận “ăn theo văn nghệ” không còn “bám” được vào các tổ chức Văn học Nghệ thuật của Nhà nước, người tham gia hoạt động văn nghệ phải tự nguyện đóng góp kinh phí hoạt động (đóng phí để được dự họp, dự trại, in tác phẩm…), thì Văn nghệ quần chúng sẽ “co lại” thành một hoạt động bình thường trong sinh hoạt theo cơ chế thị trường. Các Hội Văn học Nghệ thuật chỉ còn là một tổ chức đơn thuần làm việc hành chính trực thuộc Mặt trận tổ quốc.
- Truyền thông đa phương tiện thiên về giải trí sẽ chiếm lĩnh đời sống tinh thần của công chúng. Việc đọc tác phẩm Văn học (in giấy) sẽ ngày càng thu hẹp. Thị trường sẽ phát huy sức mạnh lấn át.
Chỉ những nhà văn tài năng, những tác phẩm văn học có giá trị mới có thể đứng được. Các tác giả viết theo quán tính, viết để phục vụ phong trào hoặc để cầu danh cầu lợi sẽ không có đất chen chân. Một thí dụ: tiểu thuyết “Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín” của Nguyễn Một (Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2023) gây được ấn tượng trên thị trường.
- Và như thế yêu cầu đổi mới toàn diện văn học (cả về ý thức sáng tạo, nội dung, tư tưởng-thẩm mỹ và các phương thức hoạt động) vẫn là yêu cầu có tính quyết định sự tồn tại và phát triển của văn học Việt. Bao giờ văn học Việt Nam mới có tác giả đạt giải Nobel văn chương như văn học Ấn Độ, Trung quốc, Nhật bản (R. Tagore, Mạc Ngôn, Kawabata Yasunari)?
LỜI BẠT
Giai đoạn văn học 1975-2025 đã khép lại. Văn học đã hoàn thành tốt đẹp nhiệm vụ góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc, góp phần xây dựng nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khẳng định những thành tựu của đường lối đổi mới văn nghệ của Đảng. Lực lượng viết văn hùng hậu, khối lượng tác phẩm đồ sộ, đó là một sự nghiệp lớn, là thành tựu của công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta trong giai đọan hội nhập toàn cầu hóa.
Đến nay đất nước đã mở ra “kỷ nguyên vươn mình”. Đảng chủ trương “phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các giá trị cơ bản: Dân tộc, dân chủ, nhân văn và khoa học”[[14]]. Hiện thực xã hội đã hoàn toàn khác với giai đọan trước đó. Việt Nam đã có những thành tựu nhiều mặt sánh vai với thế giới. Thế hệ nhà văn chủ lực của giai đoạn 1975-2025 đã rời văn đàn (nhiều người đã cao tuổi, đã cạn kiệt vốn sống). Công chúng văn học: thế hệ gen Y (1981-1996), gen Z (1997-2009), gen Alpha (2010-2025) hoàn toàn khác với thế hệ người đọc của giai đọan trước. Truyền thông đa phương tiện lấn át sách in. Văn hóa phương tây từ ngoài tràn vào làm thay đổi văn hóa Việt cả về ý thức và đời sống. Đời sống công nghiệp phá vỡ mọi truyền thống của văn hóa làng quê xưa…
Tất cả những yếu tố ấy của bối cảnh lịch sử xã hội đòi hỏi một nền văn học mới với lực lượng sáng tác mới, phương pháp sáng tác mới, kiểu tư duy nghệ thuật mới và hình thức diễn đạt mới. Có vậy mới đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới.
Rất tiếc, cho đến nay (2025) thế hệ tài năng mới chưa xuất hiện. Hội Nhà văn và các Viện, các trường Đại học cũng chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện thành tựu của văn học 1975-2025. Năm 2025, Hội Nhà văn Việt Nam chỉ tổ chức được 5 cuộc hội thảo tổng kết 50 năm văn học 1975-2025 nhưng không có những tham luận, những công trình tương xứng với tầm vóc 50 năm văn học Việt Nam đã đạt được. Việc Bộ Văn hóa tôn vinh 50 tác phẩm của giai đọan văn học 1975-2025 cũng có tác phẩm bị công luận phản ứng gay gắt [[15]].
Dù vậy, trong xu thế phát triển của đất nước, một giai đoạn văn học mới sẽ mở ra với những thành tựu mới, rực rỡ hơn giai đoạn trước.
Kết luận 230-KL/TW của Bộ Chính trị, Ban Bí thư ngày 05/01/2026 sẽ mở ra các phương thức hoạt động mới cho văn học.
Lịch sử phát triển của văn học Việt từ đầu thế kỷ XX đến nay khẳng định: văn học Việt Nam sẽ phát triển ở những bước cao hơn..
BCT.
(Hoàn thành tháng 8/ 2024 – sửa chữa câu chữ và bổ sung một tư liệu: tháng 3/2026)
***
Ghi chú:
Đọc thêm:
1.Bùi Công Thuấn-Văn chương Việt Nam, Những gì còn với mai sau. Nxb HNV. 2016. (Tải vế để đọc theo link:)
2.Bùi Công Thuấn: chuyên luận 50 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM 1975-2025 (tải về theo link:)
https://www.mediafire.com/file/hdudficqcput7er/0+50+NĂM+VĂN+HỌC+VIỆT+NAM+1975-2025-Chuyên+luận+Bùi+Công+Thuấn.rar/file
_______________________________
[1] Bài này đã đăng trên trang vanchuongthanhphohochiminh.vn từ ngày 14/8/2024, đến nay (04/3/2016) đã có 5.750 lượt xem: https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/50-nam-van-hoc-viet-nam-1975-2025-phac-thao-mot-huong-nhin.
Trên trang trannhuong.org đã có 2109 lượt xem)
[2] 20 năm Hội đồng lý luận phê bình VHNT TƯ – Hành trình vững vàng kiên định
https://vov2.vov.vn/van-hoa-giai-tri/20-nam-hoi-dong-ly-luan-phe-binh-vhnt-tu-hanh-trinh-vung-vang-kien-dinh-44594.vov2
[3] Xin đọc: Bùi Công Thuấn: “LUẬN VĂN ĐỖ THỊ THOAN” Hay sự thất bại của việc vận dụng lý thuyết trong nghiên cứu? https://buicongthuan.wordpress.com/2017/03/03/luan-van-nha-thuyen-hay-su-that-bai-cua-viec-van-dung-ly-thuyet-trong-nghien-cuu/
[4] Hoàng Kiên: ĐÃ ĐẾN LÚC CẦN NÓI THẲNG, NÓI THẬT VỀ TÁC PHẨM “NỖI BUỒN CHIẾN TRANH”
https://www.facebook.com/ngo.manh.hung.872061?locale=vi_VN
[5] Bùi Công Thuấn: chuyên luận Diện mạo của một thời. (Bạn tải về để đọc theo link)
https://www.mediafire.com/file/vkhrqxda9jp74mf/9_DI%25E1%25BB%2586N_M%25E1%25BA%25A0O-2017_b%25E1%25BA%25A3n_s%25E1%25BB%25ADa_l%25E1%25BA%25A7n_3-ch%25C6%25B0a_in.rar/file
[6] Tọa đàm “Trần Đình Sử trên đường biên của lí luận văn học”[20] chiều ngày 23 tháng 1 năm 2015 . https://giangnamlangtu.wordpress.com/2015/01/25/tuong-thuat-toa-dam-tran-dinh-su-tren-duong-bien-cua-li-luan-van-hoc/
[7] Báo Công an Nhân dân (01/02/2026): Hội Nhà văn Việt Nam kết nạp 62 hội viên mới
https://cand.com.vn/chuyen-dong-van-hoa/hoi-nha-van-viet-nam-ket-nap-62-hoi-vien-moi-i795883/
[8] Hãy thử một con tính: trong 50 năm qua, mỗi hội viên Hội ngà văn viết 10 cuốn sách thì số tác phẩm là 1200×10= 12.000 cuốn. Nếu tính tác phẩm của 64 Hội Văn học Nghệ thuật các tỉnh, con số sẽ còn lớn hơn nhiều.
[9] 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất. https://vnexpress.net/50-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-xuat-sac-sau-thong-nhat-4987990.html
[10] Ths Đặng Thị Thúy Diễm: “4 không” trong giới trẻ: chỉ báo chính sách về rào cản kinh tế-xã hội
https://thesaigontimes.vn/4-khong-trong-gioi-tre-chi-bao-chinh-sach-ve-rao-can-kinh-te-xa-hoi/
[11] Hội nghị tổng kết Hội Nhà văn Việt Nam năm 2025: Tinh gọn bộ máy, siết chặt kỷ cương và khát vọng đổi mới. https://vanvn.vn/hoi-nghi-tong-ket-hoi-nha-van-viet-nam-nam-2025-tinh-gon-bo-may-siet-chat-ky-cuong-va-khat-vong-doi-moi/
[12] Xem: Quyết định số 118/QĐ-TW, ngày 22/8/2026 của Ban Bí thư Trung ương Đảng- “Ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của hội quần chúng do đảng, nhà nước giao nhiệm vụ ở trung ương”.
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-118-QD-TW-2023-Quy-che-to-chuc-hoi-quan-chung-do-Dang-giao-nhiem-vu-o-Trung-uong-577985.aspx
[13] 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất
https://vnexpress.net/50-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-xuat-sac-sau-thong-nhat-4987990.html
[14] Dự thảo Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu tòan quốc lần thứ XIV của Đảng.
https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015171703632.htm
[15] vnexpress: 50 tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất sắc sau thống nhất-Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 30/11/2025.
https://vnexpress.net/50-tac-pham-van-hoc-nghe-thuat-xuat-sac-sau-thong-nhat-4987990.html
![]()