TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ THƠ LÊ ĐÌNH BẢNG
Bùi Công Thuấn
***
![]()
Nhà thơ Francis Lê Đình Bảng (xem tiểu sử ở phần Phụ Lục)
“Thưa anh Bùi Công Thuấn, trong thâm tâm, tôi đã có quyết định ấy: một tập chuyên luận của nhà lý luận – phê bình Bùi Công Thuấn viết về thơ Công giáo Lê Đình Bảng. Từ đấy, các nghiên cứu sẽ khởi đi, bắt mạch, khơi tả. Đồng thời, sẽ là một hợp lưu giữa sáng tạo và phê bình rất căn cốt giữa Bùi Công Thuấn và Lê Đình Bảng” (Thư Lê Đình Bảng ngày 13/01/2026).
Nhân việc nhà thơ Lê Đình Bảng định xuất bản một chuyên luận về thơ của ông, chuyên luận gồm những bài tôi đã viết về thơ Lê Đình Bảng [[1]], tôi xin được thưa vài lời với bạn đọc.
1.Chuyên luận về thơ Lê Đình Bảng
Kính thưa nhà thơ Lê Đình Bảng,
Từ lâu tôi đã ấp ủ viết và in một chuyên luận về thơ Lê Đình Bảng. Nhưng đến nay, cuốn sách ấy vẫn chưa trình làng được. Đơn giản chỉ là, những gì tôi viết, chưa nói đủ về thơ anh.
Chẳng hạn, ít nhất, còn một tập tùy bút Gặp gỡ những dòng sông và tập thơ Và em, Lễ khấn dòng (2025) của anh tôi chưa chấp bút; và hơn thế, cần những dòng giới thiệu có tính tổng quan về những giá trị thơ Lê Đình Bảng như một chỉ nam, dẫn người đọc vào thế giới nghệ thuật của anh. Đành rằng những điều ấy đã thấp thoáng trong những trang tôi đã viết
Còn một điều nữa, Thơ Việt đến nay (2026) vẫn còn dư âm của những “cách tân” theo hướng Hậu Hiện đại, một phong trào thơ hồi đầu thế kỷ XXI. Thỉnh thoảng trên diễn đàn vẫn còn tranh cãi về thơ Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn,… Vì thế, những người “đu trend” theo Hậu Hiện đại sẽ không mấy mặn mà với thơ truyền thống của Lê Đình Bảng.
Nhưng đâu là giá trị của thơ? Tôi biết: tư tưởng, nghệ thuật, Thi pháp, phong cách… của một nhà thơ là những đặc điểm có giá trị bậc nhất khi đinh vị anh ta trên dòng chảy thi ca dân tộc; đó cũng là chất liệu cần nhất để khắc tạc một khuôn mặt thi nhân. Và, tôi e rằng, càng về sau, càng khó có người hiểu đến ngọn ngành thơ Lê Đình Bảng. Bởi cái bối cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa, tâm linh, cái hồn dân tộc làm nên thơ Lê Đình Bảng đã qua đi. Con người của một thời sẽ thành tượng đài phơi mình trong thời gian. Còn lại chăng chỉ là dấu vết. Chẳng hạn, ngày nay chẳng còn ai đọc Thế Lữ, Huy Thông, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… của thời trước 1945. Các vị ấy chỉ còn là tượng đài của văn học quá khứ, thỉnh thoảng có người ngước nhìn.
Khi quan sát thơ Việt, cả trong dòng chảy lịch sử và trong không gian nghệ thuật đương đại, tôi nhận ra Lê Đình Bảng là một nhà thơ lớn (tôi sẽ xác lập nội hàm của thuật ngữ này vào dịp khác). Thơ của anh có những giá trị mới mẻ có tính mở đường. Đó là sự tổng hợp giữa cội nguồn văn hóa dân tộc và thế giới tinh thần của Kinh thánh. Đó là một thế giới rất Việt, nhưng cũng rất phương tây trong tư tưởng và cảm hứng sáng tác. Thơ Lê Đình Bảng bỏ lại sau lưng những điển ngữ và mỹ học thơ Trung quốc, đồng thời làm tôn lên vẻ đẹp dân dã của ca dao. Điều rất mới trong thơ Việt hôm nay là, thơ Lê Đình Bảng đả Việt hóa Thần học và Văn hóa Kitô giáo, làm cho hai yếu tố này trở thành Cái Đẹp gần gũi, thiết thân như hoa cỏ đồng nội trên đất này. Ở góc nhìn học thuật, Thơ Lê Đình Bảng thể hiện phong phú Mỹ học Kitô giáo trong ý thức sáng tạo, trong mọi yếu tố Thi pháp, điều mà trước đó thi ca Công giáo chưa có.
![]()
(Tác phẩm của Lê Đình Bảng)
- Thơ Lê Đình Bảng và thơ Công giáo hiện nay
Trong cuốn Văn học Công giáo Việt Nam đương đại (Nxb HNV 2022), tôi đã giới thiệu các khuôn mặt tiêu biểu: [[2]] Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Sơn Ca Linh, Lê Đình Bảng, Trần Vạn Giã, Cao Gia An SJ, Trần Mộng Tú. Trong cuốn Hoa trên núi thánh (Nxb Hồng Đức 2025), tôi giới thiệu thêm các nhà thơ Công giáo: Mai Văn Phấn, Cát Đen, Lm Hồng Phúc, Lm Khắc Đỗ, Trần Trung Hậu, Xuân Cát.
Ngoài ra có thể kể đến thơ của các Câu lạc bộ “Đồng xanh thơ”, Câu lạc bộ “Thi ca cầu nguyện”, thơ đăng trên các trang mạng xã hội của các giáo phận, trên tạp chí Mục Đồng (giáo phận Quy Nhơn)… hầu hết là “thơ phong trào” (Văn nghệ quần chúng, phân biệt với nghệ thuật chuyên nghiệp) [[3]]. “Thơ phong trào” có mục đích loan báo Tin Mừng nhưng không đặt mục đích nghệ thuật thi ca. Trái lại, Nghệ thuật chuyên nghiệp chú trọng sự sáng tạo trong phẩm chất tư tưởng, thi pháp và phong cách (xin đọc Phụ lục)
Trên nền thơ ấy, Thơ Lê Đình Bảng như một đỉnh thi sơn, có cốt cách riêng, có thành tựu nổi bật, và có ngôi vị mở đường.
![]()
- Sứ mệnh thi ca
Thưa bạn đọc.
Người ta hỏi mãi câu hỏi: “Thơ là gì?”.
Và người ta biện minh cho việc cảm nhận thơ, văn bằng lập luận: “Văn mình, vợ người”!
Khi hỏi “Thơ là gì?”, thì câu hỏi cùng loại với các nan đề triết học: “Thiên Chúa là gì?”, “Tôi là ai?; “Sống là gì?”, “Đời là gì?”…đó là những tra vấn về bản thể.
Nhưng Thơ không có bản thể, Thơ chỉ là công cụ ngôn ngữ, nó chịu sự chi phối của các quy luật ngôn ngữ, quy luật thông tin, quy luật giao tiếp, của môi trường văn hóa và quy luật sáng tạo. Con ngưởi cũng dùng thơ để diễn tả tư tưởng tình cảm của mình. Nhưng Thơ là nghệ thuật, tức là sự sáng tạo Cái Đẹp bằng ngôn ngữ (sáng tạo là làm ra Cái Thẩm mỹ mới). Thơ là nghệ thuật bậc nhất của sáng tạo ngôn ngữ. Không có năng lực sáng tạo Cái Đẹp mới bằng ngôn ngữ thì không thể làm thơ.
Hàn Mạc Tử có những ý kiến chí lý: “Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “ thiên thần” và “ loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “loài thi sĩ”! Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch…”;
“Cho nên tất cả thi sĩ trong đời phải qui tụ, phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là một người thường. Với một sứ mệnh của Trời thi sĩ phải biết đem cái tài năng ra ca ngợi Đấng Chí Tôn, và làm cho người đời thấy rõ vẽ đẹp của thơ, để đua nhau nhìn nhận và tận hưởng…” (Thư gửi cho Trọng Miên 1939 [[4]]
Đức Giáo hoàng Jean-Paul II xác tín rằng: “Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hóa đã ban cho người nghệ sĩ qua hình ảnh họ được Chúa trao cho “nén bạc nghệ thuật”. Chắc chắn, đây cũng là nén bạc phải làm cho sinh hoa kết quả, đúng theo ý nghĩa của dụ ngôn các nén bạc”.
Những ai nhận thấy nơi mình có tia sáng thần linh ấy, tức là ơn gọi làm nghệ sĩ (làm thi sĩ, văn sĩ, nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà nhiếp ảnh, nhạc sĩ,…) cũng sẽ cảm thấy mình có bổn phận không được để hoang phí tài năng ấy mà phải phát triển, để đem ra phục vụ nhân loại.”[[5]].
Như vậy là, dưới ánh sáng Thần học (thư của Thánh Giáo hoàng Jean-Paul II), và trải nghiệm tâm linh của Hàn Mạc Tử, người làm thơ là “ơn gọi làm nghệ sĩ”. “Loài thi sĩ”! Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm,… Thi sĩ không phải là một người thường”, mà là người “được Chúa trao cho “nén bạc nghệ thuật”. Họ sáng tạo trong sự chiếu rọi của “tia sáng thần linh”. Điều này dân gian gọi là “tài năng thiên phú”.
Vâng, Việt Nam chỉ có 1 Nguyễn Du. Người ta đã nghiên cứu để khám phá bí mật sáng tạo của ông rồi áp dụng mô hình ấy để đào tạo nhiều Nguyễn Du khác! (như kiểu Robot AI bây giờ) Đúng là một ý tưởng thực dụng! Nhưng việc ấy không bao giờ thành hiện thực. Ngay cả đến hôm nay, Trí tuệ nhân tạo (AI) có thể làm thơ, chỉ trong nháy mắt, thơ chuẩn về thi pháp, thể loại, đa dạng về phong cách nghệ thuật, và hay hơn “thơ phong trào” rất nhiều. Nhưng đó không phải là sáng tạo, mà chỉ là những gì đã được lập trình tạo ra! Sáng tạo nghệ thuật, là “ném bạc nghệ thuật Chúa trao cho người nghệ sĩ, và người sáng tạo nghệ thuật là người sinh lời từ việc thực hiện “ơn gọi làm nghệ sĩ”.
Cho nên, khi tìm kiếm những khuôn mặt thi nhân Công giáo hôm nay, giữa hàng vạn “người làm thơ”, tôi thấy thấp thoáng các khuôn mặt: Đức ông Xuân Ly Băng, Lm. Trăng Thập Tự, Lm. Sơn Ca Linh, Lm Hồng Phúc, nhà thơ Trần Vạn Giã, Trần Mộng Tú, Mai Văn Phấn. Những người trẻ làm thơ có khí chất là: Lm. Cao Gia An SJ, Lm. Khắc Đỗ, Lm. Cát Đen, Sr. Xuân Cát…Nhưng nếu tìm một khuôn mặt có thể kế tục Hàn Mạc Tử, có ý thức sáng tạo riêng, có thi pháp độc đáo, có phong cách tài hoa phóng khoáng vừa dân tộc vừa hiện đại, và có thành tựu, tiêu biểu cho thi ca Công giáo trong thi đàn Việt hôm nay, sánh ngang với những nhà thơ làm nên diện mạo thơ Việt đương đại, thì Lê Đình Bảng là tiêu biểu.
Thực ra Hàn Mặc Tử chỉ “nổi tiếng” là nhà thơ Công giáo ở một vài bài (Thí dụ Ave Maria). Hầu hết các tập thơ của Hàn Mạc Tử là thơ đời, thơ về nỗi đau của riêng ông (bệnh phong). Người ta đánh giá cao thơ Hàn Mạc Tử ở phẩm chất thơ ông đã đạt đến nghệ thuật thơ Siêu thực, và truyền tụng một vài bài thể hiện tình yêu quê hương (Thí dụ, bài Đây thôn Vỹ Dạ). “Thơ đạo” của Hàn Mạc Tử mới chỉ lóe lên một vài tia sáng Thần học và Mỹ học Kitô giáo nhưng ở những hình ảnh siêu thực và rất lãng mạn (chủ quan), tứ thơ không phải là hình ảnh đời sống thực của giáo dân Việt
Trái lại, Lê Đình Bảng đã mở hẳn một con đường tư tưởng-nghệ thuật cho thi ca Công giáo phát triển. Trước hết là thái độ tuyên xưng đức tin công khai bằng thơ ca; là lộ trình kết hợp tư tưởng – nghệ thuật truyền thống và tư tưởng, văn hóa phương tây mà cội nguồn là Kinh thánh. Lê Đình Bảng đã đem vào thi ca Công giáo nguồn thi liệu rất giàu có là đời sống văn hóa, sinh hoạt lễ hội Công giáo của tín hữu Việt. Thơ Lê Đình Bảng làm hiện lên vẻ đẹp mới lạ của làng quê Việt trong những mùa lễ hội từ bắc chí nam, trong suốt một dòng lịch sử dài của lịch sử Việt. Vẻ đẹp ấy trước Lê Đình Bảng chưa ai nhận ra, và sau Lê Đình Bảng, tôi vẫn chưa thấy nhà thơ trẻ nào tiếp tục con đường thơ của ông. Lê Đình Bảng đã hiện thực hóa lời dạy này của Giáo hội: “Giáo Hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá đó. Đó là con đường bắt buộc cho những nhà rao giảng Tin Mừng khi trình bày đức tin Kitô giáo và làm cho nó trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc” (Tông huấn Giáo hội tại Châu Á– Ecclesia in Asia. Jean-Paul II-ngày 06/11/1999).
Thơ Lê Đình Bảng là thơ của một tầm nhìn cao rộng (về trí tuệ, sở học đông tây, kim cổ), là một tấm lòng rất sâu nặng với văn hóa, quê hương và dân tộc; là một đời sống tâm linh đã vượt qua bụi bặm ngàn trùng của đời để tiến về đền thánh, và là một cuộc đời trầm luân dâu bể, xa tít bụi bờ, đủ để những trải nghiệm đọng lại thành châu ngọc (như hạt ngọc trai hình thành lòng con trai biển). Tất cả những điều ấy làm nên “vốn lời” của những nén bạc mà Thiên Chúa đã giao cho nhà thơ từ lúc khởi đầu (Dụ ngôn những nén bạc, Mt 25, 14-30). Và vì thế, khó có người tiếp tục hành trình sáng tạo thơ Công giáo như Lê Đình Bảng.
Tôi ngạc nhiên khi Lê Đình Bảng chia sẻ tâm tình này: “Tạ ơn Chúa, tôi là ‘người làm thơ Công giáo duy nhất dám tuyên xưng đức tin một cách công khai: francis assisi Lê Đình Bảng. Không ai thèm làm cái trò “nhà quê, nhà thờ, nhà đạo”. Tất cả sự nghiệp thi ca của tôi có mang dấu vết: thánh giá của một tín hữu + với nét văn thân (hình con thuồng luồng của người Giao Chỉ )”[[6]].
![]()
4.“Tuyên ngôn thơ”
Vâng, Lê Đình Bảng “làm thơ Công giáo” mà không phải là người Công giáo làm thơ. Tuyên ngôn thơ của anh là:
Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện
Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi
Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi
Trong cây lá vươn sức dài vai rộng
(Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)
Căn tính của Kitô hữu là cầu nguyện. Đức Giêsu dạy: “anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21, 36). Trong mọi biến cố, Đức Giêsu luôn cầu nguyện với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con, một theo ý Cha” (Lc 22, 42). Vì thế : “Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện” là một ý thức sáng tạo rất sâu sắc, không chỉ có ý nghĩa tư tưởng mà còn là tâm linh vượt lên trên thực tại, so với các nhà thơ thế tục.
“Tuyên ngôn thơ” này vừa diễn tả ý nghĩa cụ thể là, thơ Lê Đình Bảng là tiếng nói hiệp thông với Thiên Chúa qua Đức Giêsu. Ngày xưa, Đức Giêsu đã cầu nguyện trong sa mạc, cầu nguyện trong Vườn Dầu, thì hôm nay Lê Đình Bảng “làm thơ cầu nguyện” trong mọi hoàn cảnh dâu bể của đời mình. “Cầu nguyện” còn là “căn tính Kitô hữu”, thì thơ Lê Đình Bảng cũng là sự diễn tả những phẩm chất khác nhau của căn tính ấy. Ông “tuyên xưng đức tin một cách công khai bằng những trang thơ in đậm Mỹ học Kitô giáo. Đó là niềm xác tín vào đức Giêsu và Ơn Cứu Độ của Người, nương tựa vào Mẹ Maria, vào Giáo hội; xác tín về lịch sử giáo hội Việt Nam kiên vững qua bao thăng trầm.
Từ “Tuyên ngôn” ấy, ta hiểu tại sao Lê Đình Bảng không viết về những chuyện thế sự như thơ Chế Lan Viên (Xương vỡ, máu trào), Đoàn Văn Cừ (Chợ tết)…), viết về Cái Tôi cá nhân “hỷ, nộ, ái, ố, dục, tăng, bi” (thơ tình Xuân Diệu), về nỗi đau thương của số phận (Rướm máu-Hàn Mạc Tử). Mặt khác thơ Lê Đình Bảng cũng không “phản ánh hiện thực” Việt Nam thế kỷ XX như nạn đói 1945, kháng chiến 1945-1954, đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh trước 1975; “hòa hợp-hòa giải” dân tộc, hay công cuộc “đổi mới” ở Việt Nam sau 1975. Bởi thật đơn giản, Lê Đình Bảng khẳng định: “Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện”. Vâng, người nghệ sĩ Công giáo sáng tạo theo ơn gọi của riêng mình. “Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hóa đã ban cho người nghệ sĩ…”(Thư Jean-Paul II đd)
Hồn thơ Lê Đình Bảng hân hoan, như thể nhà thơ được đứng trước công trình tạo dựng của Thiên Chúa trong 6 ngày: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!” (St 1, 31)
Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện
Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi
Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi
Trong cây lá vươn sức dài vai rộng
5.“Thánh giá” và “hình con thuồng luồng”
Nhà thơ Lê Đình Bảng nói về sự nghiệp thi ca của mình: “Tất cả sự nghiệp thi ca của tôi có mang dấu vết: thánh giá của một tín hữu + với nét văn thân (hình con thuồng luồng của người Giao Chỉ )”(đd)
Câu văn dùng hình ảnh biểu tượng. Có thể hiểu là: thơ Lê Đình Bảng kết hợp đức tin của một người Công giáo (Thánh giá) với hồn cốt dân tộc (hình con thuồng luồng).
Nếu câu thơ “Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện” mở ra thế giới bên trong của thơ Lê Đình Bảng, thì hình ảnh Thánh giá: “thi ca của tôi có mang dấu vết: thánh giá của một tín hữu” là biểu tượng bên ngoài đời sống đức tin của Lê Đình Bảng. Đức Giêsu nói với môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16, 24). Và người Công giáo tâm niệm, đời sống đức tin là “vác Thánh giá theo Chúa”. Thơ Lê Đình Bảng “mang dấu vết thánh giá”, tức là thơ ông mang ấn tín đức tin, thơ là trải nghiệm hành trình sống đạo. “Dấu vết” là cái có thể nhìn thấy được. “Dấu vết” đức tin là điều hiển hiện trên những lời, những ý, những tứ, trong cảm xúc và hồn cốt thơ Lê Đình Bảng.
Và Lê Đình Bảng chọn “hình con thuồng luồng” làm biểu tượng cho Việt tính là có ý gì? Người Việt nhận mình là “Con Rồng cháu Tiên”. Con Rồng đứng đầu trong Tứ Linh: Long, Ly, Quy, Phượng, tại sao Lê Đình Bảng lại chọn “hình con thuồng luồng”thay cho con Rồng?
Con rồng xuất hiện trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng
Con thuồng luồng (còn gọi là Giao long) xuất hiện trong nhiều truyền thuyết gần gũi với người Việt hơn.
Trong “Truyện Hồ Ba Bể”, có một bà già ăn mày được hai mẹ con cưu mang. Bà chính là con Giao Long hiện thân thành người. Bà đã cứu giúp hai mẹ con nhà kia thoát cơn lũ lụt.
Sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng Bàng thị truyện) viết về tục xăm mình của người Việt như sau: “Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua. Vua nói:
– Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước. Các loài ở dưới nước chỉ ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại.
Nói rồi, Vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thuỷ quái vào người. Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa. Tục vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy”.[[7]]
“Trong thần phả có kể, khi vua Lý Thánh Tông du ngoạn, nhìn thấy nàng Nguyễn Thị Hạo xinh đẹp và có cảm tình. Sau nhiều năm không có con, một lần nàng tắm ở hồ Tây, có một con thuồng luồng dài hơn 10 thước xuất hiện, ôm quấn lấy bà. Sau đó, vua mơ thấy thủy thần báo mộng sẽ đầu thai làm con vua để dẹp giặc cứu nước. Nàng Thị Hạo mang thai 13 tháng sinh hạ Hoàng Lang, người có thân hình to lớn và sau lưng có 28 vết hằn như vảy rồng. Hoàng Lang sau này đã lập công lớn trong việc đánh giặc, rồi xin trở về thủy quốc và hóa thành thuồng luồng”.[[8]]
Truyện “Thầy Chu Văn An và cậu học trò Thủy thần” kể rằng, con Thủy thần đến học với thầy Chu Văn An (1292-1370). Gặp năm đại hạn, thầy Chu Văn An nhờ cậu học trò con Thủy Thần giúp là mưa. Vì cãi linh trời, cậu ta bị trời phạt. Sau cơn mưa, xác con vua Thủy thần hiện nguyên hình là con thuồng luồng. Dân lập miếu thờ gọi là miếu Gàn, tên chữ là Xá Càn.
Trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi miêu tả tội ác của giặc Minh đối với nhân dân ta
“Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc…”
Lướt qua một vài truyền thuyết nêu trên, người đọc nhận ra hình ảnh con Rồng là biểu tượng cao sang, vương quyền (Lạc Long Quân và 18 đời vua Hùng). Con Rồng không hiện diện trong đời thực. Trái lại, con thuồng luồng gắn bó mật thiết với đời sống dân Việt.
Hình ảnh Thuồng luồng khi hóa thân thành người thì hết lòng giúp dân, dủ phải hy sinh. Thuồng luồng đầu thai làm thái tử nhà Lý đi đánh giặc. Làm học trò Chu Văn An cứu dân khỏi hạn hán dù biết sẽ bị trời phạt. Làm bà già ăn mày đi gõ cửa khắp mọi nhà để nhắc nhở và cứu mẹ con nhà chị kia thoát lũ lụt… Khi ở dưới nước, thuồng luồng sát hại người. Hiện vẫn còn để lại thần tích, miếu thờ.
Ta có thể hiểu “Thủy thần” là cách người dân “Thần hóa” sức mạnh của nước lũ qua hình ảnh thuồng luồng (giới nghiên cứu cho là cá sấu). Nước có ích cho dân trong canh tác, trồng trọt (khi nước lên bờ sống chung với người). Nhưng nước có thể nhận chìm thuyền bè của dân và gây bão lụt phá hại cả một vùng dân cư…
Hẳn là Lê Đình Bảng có dụng ý nghệ thuật và tư tưởng khi dùng “hình con thuồng luồng” làm biểu tượng cho hồn cốt Việt trong thơ của ông. Không nhất thiết ông phải miêu tả cụ thể hình ảnh thuồng luồng hay phản ánh nạn lũ lụt ở Việt Nam. “hình con thuồng luồng” chỉ là biểu tượng cho hồn cốt Việt trong thơ Lê Đình Bảng, xuất phát từ cội nguồn; còn biểu hiện cụ thể của hồn cốt Việt là tư tưởng, thi pháp, cảm xúc, vốn văn hóa cùng với những trải nghiệm bể dâu và thái độ diễn ngôn… của nhà thơ.
![]()
-
Ngôn ngữ thơ
Nhân những câu thơ phong trào vừa đọc, tôi lại nhận ra đặc trưng của ngôn ngữ thi ca trong thơ Lê Đình Bảng. Bài viết: “BÀI NHÃ CA THÁNG GIÊNG”& Sự kỳ diệu của ngôn ngữ thi ca” [[9]] là một tập chú về ngôn ngữ nghệ thuật của thơ Lê Đình Bảng.
Về dùng từ tiếng Việt, nhiều nhà văn nhà thơ Việt đã để lại những kinh nghiệm sáng tạo quý báu. Nguyễn Du là bậc thầy về thơ và dùng từ thuần Việt (Nôm) và Hán Việt. Nguyễn Tuân chủ trương “Văn phải là văn”. Trong Vang bóng một thời, văn của Nguyễn Tuân trang trọng, cổ kính. Nhà văn Anh Đức gọi Nguyễn Tuân là bậc thầy ngôn ngữ. Văn Anh Đức cũng tinh ròng chất Nam bộ, sau ông, Nguyễn Ngọc Tư tiếp tục khai thác nguồn tiếng Nam bộ phong phú ấy. Nguồn này khởi đi từ Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh. Văn của Nam Cao, Kim Lân là ngôn ngữ Bắc bộ rặt, đậm vị ngọt của đất, vị mặn của mồ hôi, vừa dân dã vừa tinh tế, đọc rất thú vị. Về thơ, các nhà thơ Việt Nam hiện đại có nhiều sáng tạo làm đẹp tiếng Việt. Thơ Nguyễn Bính là không gian hội hè quê kiểng thanh lịch (Tiếng trống đêm xuân. 1957). Đến hôm nay, Quang Dũng vẫn làm ta kinh ngạc về sự mới mẻ đến lạ lùng trong lời thơ của ông (Tây Tiến. 1948). Trần Mai Ninh đem vào thơ loại ngôn ngữ rắn rỏi, quyết liệt, gây ấn tượng rất mạnh (Nhớ máu. 1946). Đời sống lính tráng trong thơ Trường Sơn của Phạm Tiến Duật trẻ trung hồn nhiên và đẹp, nhưng rất thực (Bài thơ về tiểu đội xe không kính. 1969). Nguyễn Khoa Điềm đem vào thơ thứ ngôn ngữ đa tầng về văn hóa (Trường ca Mặt đường khát vọng. 1972). Bùi Giáng chơi đùa với chữ, như trẻ con nghịch ngợm, nhưng lại hết sức trí tuệ. Thơ Phạm Thiên Thư sang trọng quý phái ở cả mặt ngôn ngữ và tư tưởng (Đoạn trường vô thanh, Động hoa vàng-100 khổ thơ, những năm 1970). Du Tử Lê (Khúc Thụy Du. 1968), Tô Thùy Yên (Chiều trên phá Tam Giang. 1972) để lại ấn tượng rất riêng cho người đọc ngay từ lần tiếp cận đầu tiên.
Lê Đình Bảng đóng góp gì cho ngôn ngữ thi ca Việt vốn đã rất giàu có?
Câu trả lời là, Lê Đình Bảng nối tiếp truyền thống “ngôn ngữ nhà đạo” của tiền nhân và hiện đại hóa ngôn ngữ thơ Công giáo. Majorica (1591-1656) là người khơi nguồn. Ông viết nhiều chục cuốn sách bằng chữ Nôm, đặc biệt là bộ Các Thánh truyện, một kho tàng tiếng Việt nhà đạo thời kỳ đầu. Linh mục Lữ Y Đoan viết Sấm truyền ca (1670) trước truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du 150 năm. Ông diễn ca Kinh thánh Cựu Ước. Đây là công trình đồ sộ về dịch thuật và chuyển hóa ngôn ngữ. Lữ Y Đoan đem Kinh thánh hội nhập với văn hóa Việt và dùng tiếng Việt để “dịch” Kinh thánh. Filippe do Rosa Bỉnh (1759-1833), người kế tục A. Rhodes viết văn, thơ bằng chữ Quốc ngữ. Ông đã Việt hóa ngôn ngữ Kinh thánh thành ngôn ngữ nhà đạo, viết bằng Quốc ngữ. Xin đọc Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo.
Thực ra không có sự phân biệt rạch ròi ngôn ngữ đạo- đời, ngôn ngữ đông – tây, ngôn ngữ truyền thống – hiện đại trong thơ Lê Đình Bảng. Tất cả những vùng miền, những kiểu tư duy và đặc trưng ngôn ngữ ấy đã chuyển hóa, đã được nhào nặn, đã hóa thân thành ngôn ngữ riêng Lê Đình Bảng, rất đậm chất. Người đọc chỉ cần thóang qua là có thể nhận diện. Vấn đề là, ngôn ngữ là tiếng nói chung của cộng đồng. Biến tiếng nói chung ấy thành ngôn ngữ thi ca riêng, thì đó là công phu và tài năng, là cá tính sáng tạo, là Thiên phú.
Đây là một đoạn thơ chứa đặc trưng ngôn ngữ thơ Lê Đình Bảng
“Sao, ngây ngất những chín vàng, chín vội
Lúa Giêng, Hai vừa chơm chớm trổ đồng…
…Theo mẹ, theo cha đi đám cỗ làng
Rượu nếp cái hoa vàng, mật ong chúa
Bốn phía cổng thành, đông tây, cờ mở
Trẻ đùa chơi bên hang rắn lục, hổ mang…
Người đông ken, những áo lục, quần điều
Để cầu may, cầu phước, tiết nguyên tiêu…
Ai son sẻ, được sinh năm, đê bảy…
Con cháu đầy đàn, nhiều như bụi cát
Kìa manna, mưa trắng xoá bầu trời
Chim cút đâu về, đậu kín sân phơi
Trăm họ một nhà, ới nhau trẩy hội…”
(Bài Nhã ca tháng Giêng)
Ngôn ngữ của đọan thơ trên không chỉ là lời để diễn ý mà còn là tư tưởng, văn hóa; là hiện thực đời sống Công giáo sum suê ân sủng (Manna); là cảnh sắc trăm màu làng quê Việt Nam trù phú no tràn hạnh phúc (Người đông ken, những áo lục, quần điều). Điều làm nên những giá trị thơ ấy là góc nhìn, tấm lòng và vốn từ vựng rất giàu có của nhà thơ. Góc nhìn và tấm lòng thanh khiết ấy hiện lên đàng sau câu chữ (ngoài văn bản). Nhà thơ reo vui và hòa mình cùng với người dân quê Công giáo trong cộng đồng quê hương lễ hội. Không có bóng dáng Cái Tôi. Mỹ học Kitô giáo nở hoa tuyệt vời trên nền thi ca dân tộc. Sự kỳ diệu của ngôn ngữ thơ Lê Đình Bảng là vậy.
![]()
-
Vỹ thanh
Khi tôi đang viết lại cuộc trò chuyện này, nhà thơ Lê Đình Bảng gửi thêm cho tôi 6 tác phẩm (chưa in) của ông: đó là tập thơ Kinh cầu mùa (51 bài), tập thơ Ở một cõi nào xa xăm (43 bài), tập thơ Và đâu những bến bờ (33 bài), trường ca Thác lời cỏ hoa (170 khổ thơ), trường ca Nhật Nguyệt Hành (545 câu thơ), trường ca Di sản (939 câu thơ)[[10]].
Nhìn chung, sáu tập thơ vẫn được viết bằng “thi pháp” của thơ Lê Đình Bảng đã có trong những tập thơ trước đó. Ba tập: Kinh cầu mùa, Ở một cõi nào xa xăm, Và đâu những bến bờ (33 bài) là tậm trạng của nhà thơ khi tuổi đã cao (ông sinh năm 1942), lại sống xa quê (USA). Đó là những suy tư về cuộc đời ông đã trải qua, là nỗi cô đơn thân phận, nỗi nhớ nhà, nhớ quê khôn nguôi, có cả những lời than thở.
Rất đặc sắc là hai trường ca.
Thác lời cỏ hoa là thơ Lục bát cổ điển, thuộc văn chương bác học (như Đọan trường tân thanh-Nguyễn Du). Tác phẩm có thể là sự nối tiếp dòng văn học này sau Đoạn trường vô thanh của Phạm Thiên Thư. Thác lời cỏ hoa được viết bằng tư tưởng và ngôn ngữ Thiền, như thể thơ của một Thiền sư. Nhà thơ sáng tạo nhân vật Em để đối thoại, chia sẻ và bày tỏ suy tư riêng. Nhiều khổ thơ rất đẹp. Sự khác biệt (nếu có) là Lê Đình Bảng không lạc vào cõi Thiền (cõi vô thường, cõi Không), mà trở về với thực tại chân quê (khổ thơ 166). Nhà thơ tìm thấy “Niết bàn, cũng ở quanh đây”(khổ thơ 148).
Về đây, bầu bạn chân quê
Tắm sông, cấy lúa, tát đìa, bẫy chim…
Trường ca Nhật Nguyệt Hành là một đặc sắc nghệ thuật khác của Lê Đình Bảng. Đây là tập thơ duy nhất Lê Đình Bảng viết bằng bút pháp hiện thực. Thơ Lê Đình Bảng hầu hết viết bằng bút pháp Lãng mạn, thuộc thi pháp truyền thống. Trong Nhật Nguyệt Hành, cảnh sắc, đời sống Việt từ Bắc chí Nam hiện lên sắc nét, độc đáo và đầy ắp tình quê. Những nơi ông đã đi qua, nơi ông đã sống, kỷ niệm vẫn tươi nguyên như ngày nào. Nhật Nguyệt Hành khác biệt về nghệ thuật với Thác lời cỏ hoa ở chỗ Lê Đình Bảng sử dụng nhiều từ ngữ của khẩu ngữ hiện đại, ông làm cho những tiếng thô kệch đời thường thành tiếng thơ (thực ra, hồn thơ Lê Đình Bảng dễ thương).
1.Rồi một hôm, dong thuyền về miệt dưới
Đặng bỏ câu, bắt rắn, đuổi chuột đồng
Từ Đàng Ngoài, vô tới xứ Đàng Trong
Xuôi mấy xã đầu nguồn, con nước lớn
5.Nghe lóc cóc, những cộ bò về muộn
Mấy gã trai lơ huýt sáo, đàn mồm
Theo cô nàng về Cồn Én, Giồng Trôm
Dưới bóng trăng suông, lập loè đom đóm
Điều đọng lại sau tất cả là, sáu tập thơ mới của Lê Đình Bảng chất nặng những suy tư của người xa quê khi tuổi đã cao, đã phiêu bạt trầm luân đủ mọi cảnh đời, đã truy tìm thân phận qua mọi nguồn mạch tư tưởng, để sau cùng trở về với đức tin của mình.
Người về nẻo ấy, non xanh
Có hay, lòng Chúa chiên lành dường bao
(Thác lời cỏ hoa. Câu 160)
Điều quý giá là, thơ Lê Đình Bảng đã góp vào thi ca Việt hôm nay nguyên vẹn một hồn thơ trong trẻo tình quê, rất truyền thống nhưng giàu có, mới lạ về thi pháp, bên cạnh những “cách tân” thơ Việt đương đại.
***
Còn nhiều điều để chia sẻ về thơ Lê Đình Bảng. Rất mong có nhiều nhà nghiên cứu văn học Công giáo tiếp tục khám phá sáng tạo nghệ thuật- tư tưởng của thơ Lê Đình Bảng.
Và ao ước rằng, nền thi ca Công giáo sẽ có nhiều người trẻ tiếp bước Lê Đình Bảng làm cho Mỹ học Kitô giáo nở thêm nhiều hoa rực rỡ trên bầu trời thi ca Việt hôm nay.
Và ước mong tập chuyên luận về thơ Lê Đình Bảng có thể xuất bản được như ý nguyện của nhà thơ.
Tháng 1/ 2026
_____________________________________________
PHỤ LỤC 1
1.francis assisi lê đình bảng
TIỂU SỬ
(Nguồn: in trong tập thơ Và em, Lễ khấn dòng. Tuổi Hoa Publishing USA 2024. Tr. 104)
***
Sinh năm 1942 tại làng Đình Bảng. Nguyên quán: Thuỵ Anh, Thái Bình.
Cử nhân giáo khoa Văn chương Việt Hán. Đại học Văn Khoa, Sài Gòn. Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm Sài gòn Ban Việt Hán.
Giảng dạy quốc văn ở nhiều trường Trung học tư thục tại Sài gòn trước 1975
Các bút hiệu: Mạc La Đình, ThuỵAnh, Đỳnh Bảng, Mộ Dung, Lê Quán Thư, Nhất Kiếm, Lại Thị Hương Nhu, Người Sông Hoá, Quốc Chính, Đàm Như.
Cộng tác với các báo Công giáo: Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, Công Giáo và Dân Tộc, Hiệp Thông (1960-2024)…
Cộng tác với các hoạt động Mục vụ của Hội đồng Giám mục Việt Nam (1988-2017) và các giáo xứ ở Sài Gòn.
Đã xuất bản:
Biên khảo:
1.Giảng Văn – Văn học sử Việt Nam – Phương Pháp Nghị Luận. Giáo Trình giảng dạy Quốc Văn các lớp đệ nhất& đệ nhị cấp ban ABCD. Sài gòn 1962-1975
3.Hiện Tượng Lục Bát Trong Thi ca Việt Nam. Tiểu luận Sài gòn 1970.
4.Thánh Ca Hoài Đức – Một Thời Để Nhớ. Biên khảo Sài gòn 2007.
5.Hành Trình Một Trăm Năm Báo Chí Công Giáo Việt Nam(1908-2008). Biên khảo Sài gòn 2008. Vào đề của Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, Giám mục giáo phận Phan Thiết, Chủ tịch Uỷ Ban Văn Hoá HĐGMVN. Bìa của Thuỵ Nhi.
- Ở Thượng Nguồn Thi Ca Công Giáo Việt Nam. Sài gòn 2009. Trọn bộ 6 Tập hơn 4000 trang sưu tầm – nghiên cứu – giới thiệu thi ca Công giáo Việt Nam từ khởi thuỷ đến hiện đại. Linh mục Vinh Sơn Phạm Trung Thành, bề trên giám tỉnh dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam giới thiệu. Học giả Hoàng Xuân Việt viết Bạt. Bìa của Math. Đoàn Minh.
- Văn Học Công Giáo Việt Nam – Những Chặng Đường. Biên khảo. Sài gòn 2015. Giới thiệu của Đức cha Micae Hoàng Đức Oanh,giám mục giáo phận Kontum, Chủ tịch Uỷ Ban Loan Báo Tin Mừng HĐGMVN. Bìa Quốc Dũng.
8.Vè Vãn Ca Ngâm Chương Khúc Công Giáo Việt Nam. Biên khảo Sài gòn 2015. Bìa của Nguyễn Hà.
Bút ký
1.Đêm Rất Thánh. Ngàn Thông. Bút ký. Sài gòn 1969.
2.Vòng Quanh Xứ Đạo. Bút hiệu Lê Quán Thư. Bút ký lịch sử các giáo xứ – nhà thờ Sài gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Sài gòn 1988.
3.Chuyện Đất và Người Làng Thọ. Bút ký gia phả học Sài gòn 2005. Bạt của Huỳnh Hay. Bìa Thuỵ Nhi.
4.Nửa Vòng Trái Đất Vừa Xa Vừa Gần. Bút ký Mỹ du. Sài gon 2008. Bìa Nguyễn Hà.
5.Gặp Gỡ Những Dòng Sông. Tạp bút. Sài gòn 2009. Bìa Nguyễn Hà.
6.Một Thời Chưa Xa Lắm. Hoa Kỳ 2020. Tuyển tập những bài viết về tình nghĩa giáo khoa thư. Bùi Văn Bằng thực hiện.
Thơ
1.Bước Chân Người Giao Chỉ. Thơ Sài gòn 1967. Bạt của Trần Dạ Từ. Bìa Phạm Thư Sinh .
2.Hành Hương. Thơ Sài gòn 1994. Vũ Đức Sao Biển vào đề. Ký hoạ Choé. Bạt Huỳnh Hay. Bìa Bùi Liêm.
3. Quỳ Trước Đền Vàng . Thơ Sài gòn 2007. Vào đề của Đức Tổng Giám mục Tê pha nô Nguyễn Như Thể. Tổng giám mục Huế. Bạt của nhạc sĩ Phan xi cô. Bìa Quốc Dũng.
- Nhã Ca La Vang. Thi ca Đức Mẹ La Vang. Hợp soạn với Trần Quang Chu. Sài gòn 2009.
- Lời Tự Tình Của Bến Trần Gian. Thơ Sài gòn 2012. Vào đề của Nguyễn Quang Thiều. Bìa Nguyễn Hà.
6. Đội Ơn Lòng Chúa Bao Dung. Thơ Sài gòn 2012. Bìa Nguyễn Hà.
7. Ơn Đời Một Cõi Mênh Mang. Thờ Sài gòn 2013. Bìa Nguyễn Hà.
8. Về Cõi Trời Mênh Mang. Thơ Sài gòn 2013. Bìa Nguyễn Hà.
9. Lời Khấn Nhỏ Chiều Chúa Nhật. Thơ Sài gòn 2014. Bìa Nguyễn Hà.10. Và Em, Lễ Khấn Dòng. Thơ Hoa Kỳ 2024. Bùi Vĩnh Phúc viết Vào đề. Bìa Nguyễn Hà.
Sẽ xuất bản:
1.Kinh Cầu Mùa. Thơ.
2.Ở Một Cõi Nào Xa Lắm. Thơ.
3.Quê Người & Tuyết. Thơ.
4.Về Đâu Những Bến Bờ. Thơ.
5.Nhật Nguyệt Hành (Thơ).
6.Di Sản. Trường Ca.
7.Tự Tình Khúc. Trường Ca.
8.Những Nốt Trầm Jobbica. Trường ca.
9.Chúa Ở Phương Nào. Trường Ca.
10.Thác Lời Cỏ Hoa. Trường ca.
11. Ca Dao Mẹ. Trường ca.
12.Nghêu Ngao Hát Thương Hồ. Trường ca.
13. Những Cơn Bão Muộn. Trường ca.
14. Bản Tango với Chúa. Trường ca.
15. Trong Cõi Vô Ngôn. Trường ca.
Biên khảo:
1.Ký Ức Văn Hoá Lễ Hội Công Giáo Việt Nam. Biên khảo tập I.
2.Ký Ức Văn Hoá Lễ Hội Công Giáo Việt Nam. Biên khào tập II.
3.Thánh Nhạc – Thánh Ca Việt Nam– Chuyện Một Thuở Một Thời. Biên khảo.
4. Tản Mạn Chuyện Văn học Nghệ Thuật. Tạp bút.
5. Tha Hương Ngộ Cố Tri. Tạp bút.
PHỤ LỤC 2:
Xin đọc ba bài thơ phong trào sau đây:
SÓNG TÌNH
Biển Cà Ná nước trong xanh
Cứ rì rào vỗ sóng tình miên man
Như Lòng Thương Xót vô biên
Mặn nồng suốt những tháng năm cuộc đời
Chúa là Biển rộng trùng khơi
Con xin làm giọt nhỏ nhoi mọn hèn
Ước mong đây giọt-nước-con
Được cùng Biển-Chúa hòa tan muôn đời
Sóng Lòng Thương Xót tuyệt vời
Vỗ suốt đời đời cho trọn yêu thương
(Nguồn: Đồng Xanh Thơ số 72, ngày 10/7/2012)
HÃY TIN LỜI THẦY
(Ga 12, 20-33) CN 5 MC
Hạt giống gieo xuống đất rồi
Nó cứ trơ trọi…thì thôi, lợi gì!
Mà nó sẽ phải thối đi
Để sinh lời lãi có khi trăm nghìn
Ai yêu quý mạng sống mình
Thì sẽ mất hết – hãy tin lời Thầy
Coi thường mạng sống đời này
Sẽ được hạnh phúc lâu dài đời sau
Ai tin – hãy theo Thầy mau
Cha con quý mến bên nhau sum vầy
Lòng Ta xao xuyến lúc này
Vinh quang Cha Cả…ngất ngây tâm hồn
Từ trời tiếng phán ôn tồn:
Danh Cha muôn thuở hãy còn tôn vinh!
Chiên Con sẽ bị nhục hình
Treo cao lên bởi tội tình thế nhân.
(Nguồn: “Thi ca cầu nguyện” số 211, ngày 23/11/2015).
LOAN BÁO TIN MỪNG HÔM NAY
Khó khăn gian khổ bủa vây tứ bề
Hoa trái đâu? thấy bộn bề
Xin ơn Thiên Chúa vỗ về chứng nhân
Trung kiên với Chúa không ngừng
Lì lợm, liều lĩnh tuyên xưng danh Ngài.
Niềm vui là được Chúa sai
Hy sinh cùng Chúa được Ai trở về.[[11]]
(Nguồn: vanthoconggiao.net ngày 10/01/2016)
Ba thí dụ trên, trải một thời gian dài, suốt từ 2012, đến 2015 và… 2025, “thơ phong trào” vẫn vậy: Lời thơ là tiếng Việt (khẩu ngữ) rất cũ và thô, không hề có sự trau chuốt trong dùng từ để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Ý, tứ chông chênh về Thần học và tín lý (thí dụ, so sánh Thiên Chúa với biển và gọi Ngài là “Biển-Chúa”). Bài diễn ca (Ga 12, 20-33) làm hỏng cấu trúc tường thuật của Gioan, phá vỡ Lời nói trực tiếp của Đức Giêsu: văn bản không có bất cứ sự sáng tạo nào về tư tưởng và nghệ thuật. Chỉ có vỏ chữ mà không có “Cái Đẹp” là hồn cốt của thi ca.
Tôi ngờ rằng họ ngộ nhận tứ thơ này của Lê Đình Bảng:
Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện
Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi
Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi
Trong cây lá vươn sức dài vai rộng
(Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)
_______________
[1] Các bài Bùi Công Thuấn viết về thơ Lê Đình Bảng in trong chuyên luận:
Những mùa vàng văn học Công giáo. Nxb Hội Nhà văn 2018
Văn học Công giáo Việt Nam đương đại; Nxb Hội Nhà văn 2024
Hoa trên núi thánh. Nxb Hống Đức. 2025
Bạn có thể tải chuyên luận này theo link:
https://www.mediafire.com/file/schay3qva86r2io/CHUYÊN+LUẬN- THƠ+LĐB-+alls+2026.rar/file
[2] Bùi Công Thuấn– Thơ ca Công giáo Việt Nam đương đại, những sáng tạo mới. tr.63. Xem: http://buicongthuan.vn102.space/?title=vhch_nh_ng_sang_t_o_m_i_c_a_th_ca_cong_g&more=1&c=1&tb=1&pb=1
Bùi Công Thuấn-Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Các tr: 380, 415, 451,463, 509
[3] Nghị quyết số 23/NQ-TW của Bộ Chính Trị ngày 16/6/2008.
[4] Hàn Mạc Tử– (Thư gửi Trọng Miên): https://taodan.vn/tho/han-mac-tu/quan-niem-tho-han-mac-tu-1649.html
[5] Thư Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II Gửi Các Nghệ Sĩ – 1999
https://www.vanthoconggiao.net/2022/02/thu-uc-thanh-cha-gioan-phaolo-ii-gui.html
[6] Thư Lê Đình Bảng, ngày 12/01/2026.
[7] Tục xăm mình của người Việt cổ
https://baophapluat.vn/tuc-xam-minh-cua-nguoi-viet-co-post76550.html
[8] Kỳ lạ chuyện người Việt “có thai với thánh thần”
https://baotanglichsuquocgia.vn/vi/Articles/3096/14717/ky-la-chuyen-nguoi-viet-co-thai-voi-thanh-than.html
[9] Nguồn: Bùi Công Thuấn-Hoa Trên Núi Thánh. Nxb Hồng Đức 2025. Tr 368
[10] 6 TẬP THƠ MỚI CỦA LÊ ĐÌNH BẢNG. (Tải về để đọc theo link:)
https://www.mediafire.com/file/qrwmwsddnwdcyf3/6+TẬP+THƠ+MỚI-LÊ+ĐÌNH+BẢNG.rar/file
[11] Madalena: Nơi loan báo Tin Mừng…khó nhất
https://www.vanthoconggiao.net/2026/01/noi-loan-bao-tin-mungkho-nhat-tac-gia-madalena.html
![]()