KHÚC GIAO MÙA – Bùi Công Thuấn

KHÚC GIAO MÙA

Bùi Công Thuấn

***  

Hàng 1: Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Phạm Thiên Thư

Hàng 2: Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh

Hàng 3: Doãn Quốc Sỹ, Đặng Tiến, Nguyễn Đức Mậu

 ***

Những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam trên văn đàn đã trở thành “những người muôn năm cũ”(chữ của Vũ Đình Liên): những khuôn mặt lừng lẫy một thời: Tô Thùy Yên (1938-2019), Du Tử Lê (1942-2019), Túy Hồng (1938-2020), Nguyễn Huy Thiệp (1950-2021), Nguyễn Xuân Khánh (19332021), Lê Lựu (1938-2022), Dương Tường (1932-2023), Đặng Tiến (1940-2023), Nguyễn Đình Toàn (1936-2023); Doãn Quốc Sỹ (1923 – 2025), Phạm Thiên Thư (1940 – 2026), Mường Mán (1947–2026), Nguyễn Đức Mậu (1948 – 2026), Khôi Vũ – Nguyễn Thái Hải (1950–2026)…

Tôi hiểu một thời đã qua đi vĩnh viễn và một “kỷ nguyên mới” của văn học Việt Nam sẽ bắt đầu. Nhưng chưa thể hình dung được diện mạo, hình hài của nền văn học sau 2025 là như thế nào. Trong tôi, âm vang một khúc giao mùa.

Tôi đã viết về thành tựu của “40 năm Văn chương Việt Nam – Những gì còn lại với mai sau”(2016), “50 năm văn học Việt Nam, phác thảo một hướng nhìn”(2025), thành tựu của “45 năm văn học Đồng Nai”(2024), thành tựu của “Văn học Công giáo Việt Nam đương đại”(2020)…. Đó là những chuyên luận có tính nghiên cứu. Từ những tác giả, tác phẩm cụ thể tôi thử quan sát một tiến trình văn học sử, khách quan, dưới góc nhìn của những tiêu chí khoa học [[1]].

Ở đây, tôi ghi lại nghĩ suy của mình, rất cảm tính, chủ quan và mơ hồ, về một tương lai mà mình chưa thể hình dung được. Tôi gọi những cảm thức này là “Khúc giao mùa”.

  1. KẾT LUẬN CỦA BỘ CHÍNH TRỊ

            Ngày 05/01/2026, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có Kết luận số 230-KL/TW “Về đề án sắp xếp, tinh gọn các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ…”, nội dung cụ thể (xin trích):

“…các hội hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận; tuân thủ pháp luật, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, và hướng dẫn, điều phối thống nhất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…”

“7. Các cấp Ủy địa phương căn cứ nhu cầu, đặc điểm tình hình thực tiễn để quyết định danh sách các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ trên địa bàn, ưu tiên các hội trong danh sách các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở trung ương”.

Căn cứ vào Kết luận này, từ nay, các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vu, sẽ vận hành theo nguyên tắc: “tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí, không vì mục tiêu lợi nhuận…”.

 Nói thẳng ra là: vì là hội quần chúng, hội viên phải tự lo mọi việc. Nhà nước quản lý Hội theo luật pháp. Hội quần chúng là của quần chúng. Ai muốn tham gia thì phải đóng góp.

Kết luận của Bộ Chính Trị đã đặt các Hội Văn học Nghệ thuật vào hoàn cảnh không biết sẽ xoay trở thế nào. Lúc trước, Nhà nước cấp nhà làm trụ sở Hội, cấp biên chế và trả lương cho nhân sự lãnh đạo Hội, cấp tiền in tạp chí hàng tháng, in đặc san, in tác phẩm đặt hàng. Cấp kinh phí tổ chức hội nghị, tọa đàm, tổ chức biểu diễn, triển lãm, tổ chức Ngày Thơ, tổ chức trại sáng tác, tổ chức các cuộc thi, khen thưởng, thăm viếng hội viên đau yếu, qua đời…

Tất cả những hoạt động ấy là để Hội thực hiện nhiệm vụ chính trị Đảng và Nhà nước giao. Bây giờ không được cấp kinh phí, Hội sẽ tồn tại trong hệ thống chính trị thế nào? Câu trả lời là: “Các cấp Ủy địa phương căn cứ nhu cầu, đặc điểm tình hình thực tiễn để quyết định”. Nghĩa là, nếu cấp Ủy địa phương thấy không có nhu cầu thì sẽ “quyết” bỏ qua các Hội quần chúng của địa phương.

Trước đây, tôi tự hỏi, tại sao nhiều người xin vào Hội, và ghi nhận thiện ý này: tham gia Hội để phát huy tài năng. Sự thật là, nhiều người đã “trưởng thành” lên từ Hội. Nhưng tôi cũng hoài nghi rằng, có người nghỉ hưu, không biết làm gì, nên “tham gia cho vui”, thực chất là để cầu danh cầu lợi. Bởi vì: đăng một bài thơ 4 câu, không cần đặc sắc, làng nhàng cũng được, miễn là có vần có điệu, là có nhuận bút, rất hoan hỉ. Dự hội nghị thì có liên hoan, tay bắt mặt mừng hoan hỉ. Đi dự trại sáng tác 10 ngày, nửa tháng (mỗi năm 2 kỳ trại), được Hội lo chỗ ăn chỗ nghỉ (khách sạn), lo phương tiện đi lại (đi xa, có máy bay, có người lo hậu cần), được đi thực tế (tham quan) nhiều danh lam thắng cảnh đất nước, giao lưu với các hội văn nghệ địa phương: Hạ Long, Tam Đảo, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Đà Lạt, Vũng Tàu, Phú Quốc…tình yêu quê hương đất nước dạt dào trong sáng tác của trại viên.

Lý do chính là, được đi chơi nhưng hội viên không phải góp đồng nào, thế là hoan hỉ. Còn chất lượng tác phẩm dự trại, không ai bận tâm. Sau tổng kết trại, Ban Tổ chức cất vào kho, xong! Hoàn thành tốt kế hoạch của năm.

Cả nước 64 tỉnh (lúc chưa sát nhập), có 64 Hội Văn học Nghệ thuật, mỗi Hội có hàng trăm hội viên, số hội viên nhiều vô kể. Ra đường, đâu cũng chạm mặt “nhà thơ”! Thí dụ: Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP.HCM có hơn 5.400 hội viên, Hà Nội có khoảng 4.361 hội viên, Hội Hội Văn học Nghệ thuật Đồng Nai có hơn 600 hội viên…Bạn thử nhân lên, 64 Hội trong cả nước thì sẽ thấy lực lượng “quần chúng” làm văn nghệ đông đảo thế nào. Tác phẩm của Hội quần chúng phải cao thành núi.

Tiếc là, 50 năm qua, chưa có tác phẩm nào viết ở trại sáng tác thuộc các Hội Văn học Nghệ thuật địa phương lọt vào top 50 tác phẩm xuất sắc được bộ Văn hóa vinh danh. Nhưng 50 năm, Nhà nước, đã phải chi ra bao nhiêu tỷ đồng tiền thuế của dân để “nuôi” lực lượng này!

Từ giờ trở đi, phải góp tiền túi cho mọi sinh hoạt hội, chưa rõ hội viên sẽ tham gia thế nào!

Một vài sự việc cụ thể:

1.Ngày 10/04/2026, Ban Nhà văn nữ (Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức tại Hà Nội chương trình giao lưu “Nhà văn nữ Việt Nam: Sống và Viết”. Văn phòng Hội Nhà văn gửi thư mời hội viên cả nước. Thư mời ghi chú: “Hội viên tham dự tự túc việc đi lại”. Nhận thư mời, hội viên ở xa đành không thể tham gia, vì vé máy bay bây giờ rất mắc.

Hội Nhà văn cũng thông báo tạm ngưng việc gửi Báo Văn nghệ, tạp chí Viết & Đọc; Nhà văn và Cuộc sống cho hội viên vì chưa có kinh phí.

Và đến nay, Đại hội đại biểu Hội Nhà văn  nhiệm kỳ 2026-2030 vẫn chưa tổ chức được.

2.Ban biên tập tạp chí Văn nghệ Đồng Nai thông báo: từ số Xuân năm 2026, nhuận bút giảm 40%, mong cô bác thông cảm.

3.Chi Hội Nhà văn Đồng Nai báo cáo ngày 21/01/2026:

Kế hoạch hành động năm 2026 của Chi Hội Nhà văn Đồng Nai là:

Dự kiến 02 chương trình đi thực tế sáng tác trên địa bàn tỉnh theo phương thức tự đóng góp tham gia; thực hiện tập san Văn học Đồng Nai số 1 (kinh phí: tự đóng góp); tham gia, phát hiện bồi dưỡng lực lượng trẻ…

             “Về kinh phí: Các hội viên của Chi hội đóng góp cho các chương trình hoạt động chung; các hoạt động riêng (hoặc nhóm) thì mỗi người đóng góp phần tham gia của mình trên cơ sở tự nguyện. Ngoài ra, các thành viên có thể đóng góp thêm hoặc kêu gọi xã hội hóa từ các nguồn khác theo khả năng của mình”.

Như vậy, hoạt động của Chi Hội Nhà văn Đồng Nai đã vận hành theo chỉ đạo: “tự nguyện, tự quản, tự trang trải về kinh phí,…”.

                Chưa biết hiệu quả của phương thức hoạt động mới này thế nào.

Vâng, Kết luận 230 của Bộ Chính trị đã tạo ra một “bước ngoặt lịch sử” cho hoạt động của các hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ. “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng“, chắc chắn các Hội quần chúng sẽ vẫn hoạt động tốt thôi.

  1. VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG “KỶ NGUYÊN MỚI”?

            Tôi thấy trước mặt rất nhiều khó khăn.

Làm thế nào để thực hiện nhiệm vụ chính trị?

Các Hội quần chúng là tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị trong hệ thống chính trị cả nước. Nói cụ thể, Hội là lực lượng cách mạng của quần chúng được tổ chức và lãnh đạo, chiến đấu trong mặt trận văn hóa tư tưởng. Hội quần chúng không hoạt động theo mục đích, tôn chỉ riêng của mình.

Rồi đây, không biết lãnh đạo Hội sẽ làm thế nào để thực hiện kế hoạch của Hội như: kết nạp hội viên (quy tụ quần chúng), đào tạo đội ngũ, mở các cuộc thi để tìm tài năng, tìm tác phẩm đỉnh cao; đặt hàng, đầu tư cho những công trình nghiên cứu trọng điểm, in ấn tác phẩm, tổ chức các hội nghị (tọa đàm văn học, Hội nghị Lý luận phê bình Văn học Nghệ thuật, Hội nghị công tác văn học hàng năm, Ngày Thơ Việt Nam,…). Và nếu không tổ chức các hoạt động (ở trên), thì không có lực lượng cầm bút, không có tác phẩm, không có người bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, không có người gìn giữ và bồi đắp nền văn hóa dân tộc, lấy gì để chống lại các cuộc xâm lăng văn hóa tràn từ bên ngoài vào?

Đảng đã chỉ rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Văn hóa phải được đặt ngang hàng và phát triển hài hòa với kinh tế, chính trị, xã hội;… Phát huy mọi nguồn lực phát triển để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc[[2]]

Đã đến lúc phải đánh giá lại hiệu quả thực sự của các “hội quần chúng do Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ”, phải thay đổi phương thức hoạt động để đáp ứng yêu cầu của “kỷ nguyên mới”.

Không thể có tình trạng cả nước có nhiều chục ngàn “nhà thơ, nhà văn” trong các Hội văn học nghệ thuật, tiêu tốn bao nhiêu tỷ đồng tiền thuế của dân, mà 50 năm qua, không có “tác phẩm đỉnh cao” nào được vinh danh.

Đây là mục tiêu đến năm 2030:

Hằng năm có từ 10 – 15 công trình nghiên cứu lý luận phê bình văn hóa, nghệ thuật chất lượng được công bố; có 02 tác giả đạt giải thưởng văn học ASEAN và khoảng 20 – 30 tác phẩm, công trình văn hóa, văn học nghệ thuật về lịch sử dân tộc, lịch sử đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước. Xây dựng Chương trình sáng tác, nghiên cứu về văn hóa – nghệ thuật Việt Nam trong 100 năm (1930 – 2030) dưới sự lãnh đạo của Đảng”[[3]].

Và, đây là một giải pháp:

Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện cho sự sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tự tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ảnh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, công cuộc đổi mới và phát triển đất nước, lịch sử dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng 100 năm qua”[3, đd].

Lấy đâu ra tài năng văn học?

Hiện nay, lớp nhà văn “chuyển tiếp” còn rất mỏng. Trên văn đàn có thể kể: Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Ngọc Tư, Phong Điệp,…(tôi xin không nêu tên các nhà văn lớn tuổi, thời của họ đã qua).

Nhiều “ngôi sao” lóe sáng đầu thế kỷ XXI, tưởng sẽ rực rỡ, nhưng đã tắt ngấm từ bao giờ. Thí dụ: Vy Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Thúy Hằng, nhóm Ngựa Trời (Lynh Bacardi, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Phương Lan, và Thanh Xuân), Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Hữu Hồng Minh (tác giả này thân bại danh liệt vì bài thơ Lỗ thủng lịch sử)[[4]]…

Những tác giả trẻ, triển vọng của những năm 2025 chưa có nhiều, họ mới chỉ thành công bước đầu khẳng định được tên tuổi. Trong danh sách 138 đại biểu dự Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X, tổ chức tại Đà Nẵng ngày 18-19.6.2022, đến nay có bao nhiêu người có tác phẩm đóng góp được vào sự phát triển của văn học Việt?[[5]]. Tôi chưa thấy tên tuổi họ như khi Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư xuất hiện.

Những người viết trẻ “nổi tiếng” lại thuộc dòng “Văn chương thị trường” (Dương Thụy, Gào, Hamlet Trương,  Iris Cao, Nguyễn Ngọc Thạch, Phan Ý Yên,  Anh Khang…) không hy vọng đóng góp được gì vào sự phát triển của văn chương Việt, bởi “Văn chương thị trường” có mục đích lợi nhuận. Nó tìm cách đáp ứng thị hiếu của người đọc bằng nhiều thủ thuật…

Con đường sáng tạo còn rất dài trước mặt. Ai sẽ ghi dấu chân của mình trong hành trình lịch sử văn học Việt?

Và nếu không có một lực lượng hùng hậu nhà văn nhà thơ tài năng (như thế hệ kháng chiến chống Mỹ, thế hệ đổi mới), thì 50 năm nữa, không biết văn học Việt Nam sẽ có những thành tựu gì?

Tôi suy nghĩ mãi điều này. Văn học Việt Nam chủ yếu là “văn học phản ánh hiện thực”. Chỉ khi nhà văn sống chân thực với lịch sử, nhận thức được trách nhiệm của ngòi bút với cuộc sống, cảm nhận được tận cùng cõi nhân sinh, anh ta mới có khả năng góp tiếng nói có giá trị. Người trẻ hôm nay chỉ biết lướt web, cắm mặt trên màn hình điện thoại, sống ảo với Cái Tôi cô độc, thì lấy đâu ra “vốn sống” làm hành trang sáng tác.

Con đường sáng tạo là rất khó khăn. Những nhà văn dấn thân tiên phong không thiếu người phải chịu cảnh “lên bờ xuống ruộng”(Chữ của Nguyễn Mạnh Tuấn – tác giả của tiểu thuyết Cù lao Tràm. 1985) Trước kia là Hoàng Cầm, Quang Dũng, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt. Thời đổi mới là Nguyễn Mạnh Tuấn (Cù lao Chàm, Đứng trước biển), Lê Lựu (Thời xa vắng), Bùi Ngọc Tấn (Chuyện kể năm 2000), Phùng Gia Lộc (Cái đêm hôm ấy đêm gì), Trần Huy Quang (Linh nghiệm), Bảo Ninh (Nỗi buồn chiến tranh) …

Nguyễn Du (1766-1820) phải trải qua “thập tải phong trần”(1786–1796), trầm luân dâu bể thời Lê Hiển Tông, Quang Trung, Gia Long,  mới viết được những áng văn bất hủ.

Cái yếu nhất của cây bút trẻ là thiếu vốn sống.

Hiện thực kháng chiến chống Mỹ vĩ đại đã làm nên văn học văn kháng chiến. Những biến động lịch sử (1975-1985) xô đẩy Việt Nam đến bên bờ khủng hoảng khốc liệt đòi hỏi Việt Nam “đổi mới”, hiện thực ấy mới cho ra đời “văn học đổi mới” mà nhiều tác phẩm xuất sắc được Bộ Văn hóa vinh danh: (Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh); Mình và họ (Nguyễn Bình Phương); Mẫu Thượng Ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường); Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng); Cỏ lau (Nguyễn Minh Châu); Con gái thuỷ thần (Nguyễn Huy Thiệp); Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư); Thời xa vắng (Lê Lựu); Bến không chồng (Dương Hướng); Đảo chìm (Trần Đăng Khoa); Những người đi tới biển (Thanh Thảo); Đường tới thành phố (Hữu Thỉnh); Tiếng hát tháng Giêng (Y Phương).

Không có hiện thực vĩ đại ấy của dân tộc (hiện thực cách mạng và kháng chiến, đổi mới), văn học Việt Nam 1975-2025 đã không thể có thành tựu.

Nhưng 50 năm tới, hiện thực Việt Nam sẽ thế nào, chưa ai hình dung được. Lịch sử luôn biến động khôn lường. Tâm thức và tư tưởng của nhân loại cũng sẽ vận động phức tạp (Hiện đại, Hậu Hiện đại và gì nữa?…). Những trào lưu nghệ thuật mới nào sẽ chiếm lĩnh văn đàn thế giới?… Tất cả chưa lộ diện. Làm sao người viết trẻ có thể lăn mình vào cuộc sống vĩ đại của nhân dân để khám phá, sáng tạo và lên tiếng nói thời đại của mình. Nếu người viết trẻ chỉ viết văn chương thị trường như Gào, Dương Thụy, Hamlet Trương…thì văn học Việt sẽ đi về đâu?

Để viết tác phẩm lớn, nhà văn Việt Nam có hội nhập được “hiện thực toàn cầu hóa” để nói tiếng nói của thời đại không? Như V. Hugo, Lev Nikolayevich Tolstoy, E. Hemingway chẳng hạn). Có xây dựng được những hình tượng có tầm vóc nhân loại (nhân vật của Shakespear, chẳng hạn), và khám phá ra những kiểu tư duy nghệ thuật mới (nguyên lý “tảng băng trôi” của Hemingway, hoặc tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet, chẳng hạn) góp phần phát triển văn học thế giới (như F. Kafka, R. Tagiore, J. P. Sartre, Gabriel García Márquez, Alain Robbe-Grillet…?

Điều quan trọng là: tìm đâu ra thế hệ tài năng như vậy, nếu người viết trẻ vẫn được đưa vào Hội để khoác lên một bộ đồng phục, để cùng đồng ca một bài, cùng cất một giọng!

Văn học của “Kỷ nguyên mới” sẽ viết thế nào?

Năm 1946, Trần Dần và nhóm Dạ Đài (Trần Mai Châu, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, và Vũ Hoàng Chương) đã đòi “chôn Thơ Mới”. Ở Sài Gòn những năm 1960, nhóm Sáng Tạo (Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Lữ Hồ…) coi đổi mới thơ ca là nhiệm vụ sống còn, phải “đốt”, phải “chôn” các thể thơ cũ. Và từ những năm 1960-1970, Lê Đạt (1929-2008) và nhóm “Dòng chữ” (Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng) [[6]] đã có những nỗ lực cách tân thơ, họ tập trung vào chữ…

Về văn xuôi, những đòi hỏi đổi mới cũng rất mạnh mẽ. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa không còn đáp ứng việc phản ánh hiện thực mới mới sau chiến tranh. Năm 1987, Nguyễn Minh Châu viết “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”[[7]]. Năm 2006, Nguyễn Khải viết Đi tìm cái tôi đã mất [[8]]. Hoàng Ngọc Hiến cho rằng “Chủ nghĩa hiện thực phải đạo” là trở ngại của văn học Việt “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”[[9]]. Và từ khi đất nước đổi mới (1986) các nhà văn (Tô Hoài, Lê Lựu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài…) đã tìm đến những cách viết khác.

Thực ra, Phương pháp sáng tác Hiện thực Xã hội chủ nghĩa đã tồn tại độc tôn ở Việt Nam từ những năm 1948 (Báo cáo Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam của Trường Chinh). Đến  khi đất nước mở cửa hội nhập toàn cầu hóa, các trào lưu nghệ thuật – tư tưởng bên ngoài tràn vào, giới nghiên cứu học thuật buộc phải nhìn lại quá trình văn học Việt, và nhận ra Chủ nghĩa hiện thực Xã hội chủ nghĩa không còn đáp ứng yêu cầu lý luận và sáng tác trong thực tại mới. Người ta ồ ạt thử nghiệm các trào lưu mới: thơ Siêu thực, tiểu thuyết hiện sinh, Hiện thực huyền ảo, Tiểu thuyết mới, Hậu hiện đại, Cấu trúc luận, Giải Cấu trúc, Phân tâm học, Ký hiệu học, Nữ quyền luận, phê bình sinh thái…

Và rồi, sau những “thử nghiệm” tưởng là những khám phá mới (thực ra, đã rất cũ so với thế giới), người sáng tác loay hoay mãi vẫn không viết được tác phẩm nào có giá trị tư tưởng và nghệ thuật tốt hơn; nhà lý luận cũng trăn trở nhưng vẫn không đúc kết được một nền lý luận riêng của Việt Nam. Dù rằng GS Trần Đình Sử và PGS-TS Đỗ Lai Thúy có thử nghiệm, song không một nhà lý luận văn học Việt Nam nào khám phá được một lý thuyết văn học mới để sánh vai với lý luận văn học thế giới (F. Saussure, M.M.Bakhtin, J. Derrida, M. Foucault, R. Jakobson, Roland Barthes…).

Xu hướng sáng tác “truyền thống” vẫn là dòng chủ lưu. Tất cả sự “đổi mới” cũng chỉ dừng ở “sự tìm tòi, thể nghiệm”(chữ của Nghị quyết 23 Bộ Chính trị ngày 16/6/2008). Chưa có “tác phẩm đỉnh cao”, tài năng văn học Việt đã phơi bày ra hết, cũng chỉ chừng ấy tác giả, tác phẩm. Nhìn chung, dù có khác về nội dung, giọng điệu, cách thể hiện, song văn học Việt Nam trước sau cũng chỉ “phản ánh hiện thực”, chưa vượt lên trên hiện thực mà chưng cất những tác phẩm tư tưởng.

Văn học Việt chỉ “phản ánh hiện thực”, vì thế, tác phẩm mới dừng ở việc ghi chép những gì mắt thấy, tai nghe; những việc tác giả đã trải nghiệm trong đời thực (vốn sống). Nhà văn chưa sáng tạo được những tác phẩm tư tưởng, chưa chuyển tải những tư tưởng lớn của thời đại. Viết về chiến tranh cách mạng vẫn là “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, viết về “hiện thực không cách mạng”, vẫn là khuynh hướng “phê phán hiện thực” như thời của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. “Văn chương thị trường” thì xào nấu lại văn chương thị trường nước ngoài, khai thác thị hiếu của người đọc. Thế nên có lúc, thị trường sách văn học đầy dẫy sex vô luân, cổ vũ cho sự suy đồi văn hóa và lối sống thực dụng phương tây (Nháp, Bóng đè, I’m đàn bà)…

Văn đàn không có trào lưu nghệ thuật, kiểu như “trường thơ Loạn, Nhóm Dạ Đài, nhóm Sáng Tạo, nhóm “dòng chữ” của giai đọan trước, dù đôi lúc cũng lóe lên những động cựa phá phách: Thơ trình diễn, Nghệ thuật sắp đặt, Thơ Rác, Thơ Dơ, Thơ Nghĩa địa, Thơ không thơ,  nhóm Ngựa Trời…Nhưng đến nay, những “trò diễn” ấy đem đến giá trị gì cho văn chương Việt?

Đã có lúc nhiều tác giả Việt ồn ào thử nghiệm Hậu hiện đại. Tuy nhiên, đây là trào lưu nghệ thuật đa nguyên về chính trị và tư tưởng nên công luận trong nước đã lên án gay gắt. Bởi vì, có người viết dùng Hậu Hiện đại để “giải thiêng”, lật đổ những “Đại tự sự”, những “tín niệm” thiêng liêng của truyền thống Việt. Chẳng hạn, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp 1987 [[10]], Nỗi buồn chiến tranh (1987. Bảo Ninh…). Bóng đè (2005. Đỗ Hoàng Diệu)…

50 năm qua (1975-2025), văn chương Việt đã có những nỗ lực đổi mới mạnh mẽ ý thức sáng tạo, đổi mới không ngừng nghỉ, và đã có những thành tựu. Nhưng 50 năm tới, nhà văn Việt Nam sẽ phải đổi mới ý thức sáng tạo, đổi mới thi pháp thế nào? Làm thế nào để tìm tòi một con đường riêng?

Đến nay, chưa có câu trả lời…

Thực tiễn văn học đã khẳng định, không có tư tưởng thẩm mỹ mới, không có kiểu tư duy nghệ thuật mới sẽ không thể có thành tựu văn học mới.

III.VĂN HỌC CỦA NGƯỜI VIỆT Ở NƯỚC NGOÀI

 

Văn học của người Việt ở nước ngoài – gọi tắt là “Văn học hải ngoại”- đã được người Việt hải ngoại bàn bạc nhiều.

Thụy Khuê có bài: “Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”[[11]]. Tác giả ghi nhận khá cặn kẽ quá trình phát triển, thành tựu của văn học Việt Nam hải ngoại từ 1975 đến năm 2000. Thụy Khuê xác định  “nét đặc thù của văn chương Việt ngoài nước” là “Chỉ mình với mình thôi “. Bà cũng đặt câu hỏi: “Tại sao người Việt di tản không có “tác phẩm lớn” về cuộc vượt biển? Về tù cải tạo? Về việc thành lập cộng đồng lưu vong”. Câu trả lời là: “cái “lớn lao” của người Việt không theo nghĩa thông thường: Họ đã xé nhỏ đau thương trong toàn bộ “cái viết”.

 Ngu Yên gọi văn học hải ngoại 1975-2025 là “50 Năm Văn Học Việt Nhập Cư 1975-2025”[[12]]. Vì người Việt cầm bút ở nước ngoài có nhiều thành phần xuất thân, họ nhập cư vào nước sở tại với mục đích khác nhau.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh làm tuyển tập 44 năm văn học Việt Nam hải ngoại (1975-2019) quy tụ hơn 300 tác giả. Năm 2025, ông tiếp tục xuất bản tổng tập: “Văn-học Việt Nam 50 năm hải-ngoại”[[13]]. Ngoài phần tổng quan, ông nghiên cứu riêng 162 tác giả tiêu biểu.

Ông cho biết: tổng tập “Nghiên cứu toàn bộ nền văn-học của người Việt ở hải-ngoại sau 1975 đến nay, 50 năm, qua các khía cạnh: văn-học lưu đày hình thành và biến thiên qua các giai đoạn, văn-học chính-trị hoá : những trôi nổi của một số quan điểm, thái độ, văn-học và hội nhập với những vấn-đề của người Việt, căn cước, nữ quyền, gia-đình,…/ Trong khuôn khổ một sơ thảo và tổng kết văn học sử, chúng tôi tự giới hạn trình bày những nét chính và giới thiệu những tác giả và tác phẩm tiêu biểu hoặc chúng tôi có thể biết được, với hy vọng có thể giúp bạn đọc có một cái nhìn tổng quan…”[[14]].

Tác giả Trần Doãn Nho [[15]] viết một “tùy luận, biên khảo” nhan đề: “Văn chương hải ngoại: nỗi chữ-nỗi quê” trên Damau.org, khởi đăng nhiều kỳ từ 29/4/2026. “Tùy luận, biên khảo này” sơ lược lịch sử văn học hải ngoại và nêu lên những vấn đề về giá trị và sự phát triển của nền văn học này. Ông có nhắc đến đặc điểm ngòi bút của một số tác giả tiêu biểu. Kỳ V. Văn chương hải ngoại: Nỗi chữ-Nỗi quê Đi về đâu, ông đặt vấn đề tương lai của văn học hải ngoại.

Tôi đặc biệt chú ý đến bài viết: “Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay[do Lê Sơn dịch từ nguồn: Jugo  – Vostochnaja Azija:  aktual’nye problemy razvitija – ideologija, istorija, kul’tura, polilika, ekonomika. Vypusk XI (2007-2008). Moskva,  Institut Vostokovedenija RAN, 2008. tr. 233-254.[[16]]. Bài viết có tính bao quát và lý giải được nhiều vấn đề văn học Việt hải ngoại.

Bạn đọc có thể tham khảo những công trình trên để có cái nhìn tổng quan về văn học của người Việt ở nước ngoài 50 năm qua. Tôi xin không nhắc lại.

Tôi nhận ra, người Việt cầm bút ở nước ngoài có khát vọng hội nhập văn học hải ngoại với văn học trong nước. Nhiều người đã mặc định văn học hải ngoại là văn học dân tộc. Điều ấy thể hiện trong nhan đề các công trình nghiên cứu: “văn học Việt Nam hải ngoại”.

Nhưng “hợp lưu” theo cái nghĩa tác giả, tác phẩm văn học hải ngoại được Nhà nước công nhận, cho in ấn phổ biến, đưa vào các công trình nghiên cứu văn học sử, đưa vào sách giáo khoa, tổ chức hội thảo, vinh danh, vv…Điều này không thể thực hiện được. Có sự khác biệt không thể vượt qua về tư tưởng, nội dung, mục đích sáng tác; và nghệ thuật của văn học Việt trong nước với văn học hải ngoại.

Văn học trong nước là “Văn học xã hội chủ nghĩa”. Đó là một nền văn học có ý thức, đặt trên nền tảng tư tưởng Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Văn học là một bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là sự chọn lưa lý tưởng của người cầm bút. Nền văn học ấy được tổ chức, được lãnh đạo, có kế hoạch hành động để thực hiện nhiệm vụ chính trị. Trái lại, văn học hải ngoại là một nền “Văn học tự phát”, vận động theo những biến động xã hội. Tác giả “tự do” viết theo cảm quan riêng, mỗi người cầm bút đều có mục đích riêng. Nền văn học ấy không được tổ chức, không là sự chọn lựa lý tưởng, không hướng đến một mục đích chung là góp phần vào sự phát triển dân tộc. Nền văn học ầy biết cội nguồn của nó là dân tộc, nhưng lại không gắn bó với dân tộc. Có chăng chỉ là một chút tâm huyết với cộng đồng người Việt sở tại

Sự khác biệt ấy là không thể “hợp lưu”.

Sự khác biệt ấy là do hoàn cảnh lịch sử, do xuất thân của tác giả, do môi trường văn hóa nơi người cầm bút sinh sống. Đây là một minh chứng: Nhà văn Phan Nhật Nam (Người Lính-Viết Văn, Công Dân Mỹ gốc Việt, Washington DC, 9 Tháng 9, 2017) đã từ chối lời mời của nhà thơ Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam về dự họp mặt “Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt “ trong tinh thần “hòa hợp-hòa giải dân tộc”[[17]].

Thế hệ thứ nhất của văn học hải ngoại đa số là nhà văn miền Nam (1954-1975): một lớp di tản ngay sau 30/4/1975, và một lớp đoàn tụ với gia đình sau thời gian cải tạo. Tác phẩm của họ là sự nối dài của Văn học miền Nam 1954-1975. Đây là lực lượng trụ cột của văn học hải ngoại: Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Mặc Đỗ, Nhật Tiến, Bình Nguyên Lộc, Nhã Ca, Duyên Anh, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Thanh Nam, Túy Hồng, Nguyễn Tường Bách, Thế Uyên, Linh Bảo Nguyễn Thị Vinh, Trần Mộng Tú, Du Tử Lê, Viên Linh, Phan Nhật Nam, Kiệt Tấn, Nguyễn Xuân Hoàng, Võ Đình, Tạ Tỵ…

Các thành phần di dân khác là: thuyền nhân vượt biên tìm đất sống, công nhân xuất khẩu lao động, học sinh du học, và thế hệ người Việt thứ hai trưởng thành ở nước ngoài.

(Nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh)

Trong tổng tập “44 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2019”, do Khánh Trường,  Luân Hoán và Nguyễn Vy Khanh thực hiện (nhà Mở Nguồn -Hoa-Kỳ xuất-bản trong tháng 3-2019), Nguyễn Vy Khanh nhận định:

“Trải qua nhiều thập niên, văn-học hải-ngoại có một đặc điểm có tính bao trùm là tính “chính trị” vừa là động cơ, là lý do tồn tại, hiện hữu, vừa là mục đích. Nếu không tranh đấu tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản và những thế lực làm kiệt quệ đất nước, làm dân tộc mất quyền tự chủ, thì là tranh đấu, vận động cho tự do dân chủ và quyền làm người. Mà nhân quyền và quyền dân sự thì phải đấu tranh mới có. Lưu vong vì đất bằng nổi sóng, vì “vua quan” thời mới độc ác, mất nhân tính, vì xã hội nhiểu nhương, khủng hoảng mà bản thân không được quyền hay không thể ra tay; lưu vong do đó là để sống còn đồng thời để thực hiện những mục đích và công tác này dưới nhiều hình thức mà văn chương là một…Tính chính trị đã bớt nồng độ ở các thế hệ nhà văn xuất hiện gần đây….”[[18]]

(Lê Thị Huệ – Gio-o.com)

Lê Thị Huệ, admin của Gió – o. com phát biểu trong dịp kỷ niệm 20 năm: Văn chương hải ngoại chúng tôi tận hưởng sự thơm tho ngọt ngào của tự do sáng tác nhất. Tự do thường được gọi là một một ý thức trừu tượng nhưng với người sáng tác như tôi nó là một sinh hoạt cụ thể rất thật và rất thật. Ở đây tôi muốn viết gì thì viết. Tôi không bị các ông các bà nhà nước nào đọc và kiểm duyệt. Không ai kiểm duyệt điều tôi viết. Và tôi không tự kiểm duyệt xem thử liệu điều mình viết có đụng đến thần thánh nhà nước nào không…”[[19]].

Thực ra, “tự do sáng tác” (“muốn viết gì thì viết”) mà Lê Thị Huệ ca ngợi không phải là yếu tố làm nên giá trị văn chương.

Vấn đề là: văn học hải ngoại có tác phẩm đạt giải văn chương Nobel không, có nhà văn người Việt nào ở Mỹ lừng lẫy trên văn đàn thế giới như E. Hemingway không? Và tác phẩm văn học hải ngoại in ra bán được bao nhiêu ấn bản trên Amazon? Tác phẩm nào là best seller? (Tôi không thấy công trình nghiên cứu văn học hải ngoại nào đề cập đến).

Hãy nhìn văn học thế giới. Nhà văn F.M.Dostoevsky (1821-1881), dù trong hoàn cảnh từng bị kết án tử hình, tù đày, nghèo túng, bệnh tật, vẫn viết những tác phẩm đồ sộ cho văn học thế giới (thí dụ Anh em nhà Karamazov. 1880)…Ở Việt Nam, trường hợp của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền đáng suy gẫm. Ông trăn trở làm thơ ở Sài Gòn trước 1975. Sống trong trại cải tạo, ông lại làm những bài thơ mang vẻ đẹp hồn thơ dân tộc. Nhưng khi qua Mỹ, miền đất của Nữ thần Tự do, Thanh Tâm Tuyền lại giữ im lặng. Ông không viết bài thơ nào nữa[[20]]. Tại sao vậy?

Thế nên cái “tự do” “muốn viết gì thì viết” của Lê Thị Huệ (Gió – o.com) không thể làm nên tác phẩm văn chương có giá trị.

Có thể nhận rõ điều này, 50 năm qua, mọi cách tân văn học Việt, đều do các nhà văn trong nước khởi xướng và ít nhiều có thành tựu thúc đẩy văn học Việt tiến về phía trước.

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt (người Mỹ gốc Việt) đã đạt Giải Pulitzer  năm 2016 với tác phẩm The Sympathizer. Nhưng ông là người Việt thế hệ thứ hai. Ông sinh năm 1975 tại Buôn Ma Thuột, Việt Nam. Ông theo gia đình đến Mỹ lúc 4 tuổi (năm 1975), sống tại Pennsylvania, rồi đến California. Hiện tại, ông đang là giáo sư tại Đại học Nam California, cộng tác với các tờ báo Time, The Guardian, The Atlantic, The Los Angeles Times, The New York Times.

Đây là xác tín của Nguyễn Thanh Việt: “Tôi sinh ra ở Việt Nam và rời đi lúc 4 tuổi. Tôi lớn lên trong cộng đồng người Việt tị nạn. Tôi nghĩ rằng việc sinh ra ở Việt Nam giúp cho tôi có sự gắn bó với đất nước này. Và bởi vì tôi lớn lên giữa cộng đồng người Việt nên tôi đã hấp thụ cảm xúc và thái độ của người Việt Nam. Tôi có rất nhiều sự đồng cảm với người Việt Nam, cả ở Việt Nam, ở Mỹ và cộng đồng người Việt hải ngoại. Tôi nghĩ rằng văn hóa và lịch sử Việt Nam là một phần của tôi. Và tôi cảm thấy mình có nghĩa vụ phải viết về điều đó. Tuy nhiên, điều rất quan trọng mà tôi cần nhấn mạnh là tôi thấy người Việt Nam có xu hướng nghĩ văn hóa Việt Nam bằng một thuật ngữ thể hiện tính xác thực (authenticity). Họ có quan niệm rất cứng nhắc về những gì tạo nên người Việt Nam, cho dù ở Việt Nam, hay trong cộng đồng người tị nạn. Tôi hoàn toàn không đồng ý với định nghĩa của họ, tôi nằm ngoài định nghĩa đó. Mặc dù tôi nói rằng tôi rất kết nối với Việt Nam, và Việt Nam rất quan trọng đối với tôi, văn hóa rất quan trọng đối với tôi nhưng tôi không phải là nhà văn Việt Nam. Tôi là nhà văn Mỹ. Tôi không biết có bao nhiêu người Việt Nam hiểu được điều đó. Khi họ thấy ai đó là người Việt Nam, họ sẽ hỏi anh là người Việt phải không? Tôi nói đúng vậy. Nhưng tôi là một nhà văn Mỹ. Và cách tôi nói về …”[[21]].

Như vậy thì đã rõ. Thế thệ người Việt thứ hai viết văn ở nước ngoài “không phải là nhà văn Việt Nam”. Nhưng may mắn, vẫn còn có người gắn bó với văn học Việt: Nguyễn Đức Tùng, Hoàng Chính, Lê Thị Thấm Vân, Lưu Diệu Vân, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Phan Việt (ở Mỹ), Thuận (ở Paris), Đoàn Minh Phượng (ở Đức)…Nhưng ai sẽ là người kế thừa họ?

Nhà văn Võ Phiến, trong phần mở đầu cuốn Thư gửi bạn (1976), đã nhận ra vấn đề: “Từ ngày bỏ nước ra đi, tôi đâu còn nghĩ đến chuyện nghệ thuật văn chương nữa”…“Ai lại nghĩ xây dựng một sự nghiệp văn nghệ trong vòng vài trăm ngàn người, tản mát khăp mặt địa cầu, mỗi ngày một xa lạc ngôn ngữ dân tộc, xa rời cuộc sống dân tộc.” [[22]].

Các nhà nghiên cứu văn học hải ngoại đều chỉ ra thân phận của “văn học hải ngoại” (xin đọc Trần Doãn Nho-Văn chương hải ngoại: Nỗi chữ-Nỗi quê – Kỳ V – Đi về đâu). Nếu không có tác giả, tác phẩm giá trị, được người đọc trong nước và thế giới biết đến, thì nền văn học của người Việt ở nước ngoài sẽ mỗi ngày một lụi tàn. Còn lại chăng chỉ là chứng tích của một thời, như thân phận của văn học Lãng mạn 1930-1945, của Văn học Miền Nam (1954-1975).

Bởi mỗi thời đại có những vấn đề riêng, có những mối quan tâm riêng, có ý thức tư tưởng-thẩm mỹ riêng, có tâm thế riêng, nói bằng tiếng nói riêng. Dù tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là “sách gối đầu giường” của thế hệ 1930-1945, thì hôm nay, cũng không có người trẻ nào thuộc Gen Z tìm đọc. Bởi đó là chuyện của những chàng, những nàng, những bà phán, thầy ký trong Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Hồn Bướm mơ tiên… của thế kỷ trước, đã thuộc về văn học sử.

Các nhà nghiên cứu văn học hải ngoại hình như cố ý đưa tất cả các tác giả có bài viết vào tuyển tập, và gọi chung là “nhà văn”, mà không phân biệt người viết theo phong trào với nhà văn chuyên nghiệp. Tác giả phong trào viết theo quán tính bắt chước những gì học được ở phổ thông, “viết cho vui”, “muốn viết gì thì viết”, thậm chí không hiểu bản chất của văn chương là gì? Đâu là đặc trưng của các kiểu thi pháp. Người cầm bút phong trào và không hề sáng tạo Cái Thẩm mỹ mới. mà chỉ lặp lại những gì người khác đã viết. Trái lại, chỉ những nhà văn chuyên nghiệp mới làm nên một nền văn học đích thực, bởi vì họ là những người sáng tạo. Họ làm ra Cái tư tưởng – thẩm mỹ mới. Họ kiến tạo tác phẩm nghệ thuật. Họ có tư tưởng, bút pháp, phong cách riêng; tác phẩm của họ là một thế giới nghệ thuật riêng. Họ định vị như một đỉnh thi sơn tư tưởng-nghệ thuật trên con đường phát triển của lịch sử văn học Việt.

Cho nên, số lượng các tác giả trong các tuyển tập văn học, trên các diễn đàn (Talawas, Tienve.org; damau.org; Hopluu.net…) là rất đông. Gió-o có 217 tác giả (có cả ca sĩ July, và họa sĩ); Damau.org có 883 tác giả (Có cả Cao Bá Quát, Bàng Bá Lân); Hiện nay, website hopluu.net sống lây lất. Các trang Talawas, Tiềnve.org đã chết từ lâu… Nhưng tác giả nào trong số đông ấy là nhà văn có tác phẩm đứng được trong văn đàn của nước sở tại, và được công chúng trong nước biết đến? Ở trong nước, vài tác giả người Việt hải ngoại có tác phẩm xuất bản, nhưng không tạo được dấu ấn nào đối với sự phát triển văn học ở trong nước (Nguyễn Đức Tùng, Đỗ Quyên, Thuận, Linda Le, Đoàn Minh Phượng…)

Tôi nghĩ, để xác định giá trị của văn học hải ngoại, nhà nghiên cứu cần chỉ ra văn học hải ngoại đã kế tục và phát huy những giá trị văn hóa, tư tưởng, nghệ thuật của dân tộc Việt như thế nào; đã góp phần làm phong phú văn học Việt đương đại ở những lĩnh vực nào; và  thúc đẩy những cách tân (tức là đem đến tư tưởng mỹ họcthi pháp mới) ra sao. Đồng thời, nhà nghiên cứu cần khẳng định những thành tựu mới (tác giả, tác phẩm) có tầm vóc nhân loại mà văn học hải ngoại đóng góp cho văn học Việt như thế nào?

Điều này, 50 năm qua, văn học hải ngoại đã không làm được.

III.KHÚC GIAO MÙA

  1. Nhìn lại lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay (2025), ta nhận ra sự thật này: Con đường của lịch sử dân tộc là con đường đi lên, dù vô cùng gian khó, và triệu triệu người Việt đã phải đổ máu hy sinh. Con đường ấy đi về tương lai tươi sáng.
  1. Văn học Việt Nam đã phản ánh hiện thực lịch sửlên tiếng nói trước thời đại. Tiếng nói ấy có âm vang của lòng yêu nước từ ngàn đời, có sức mạnh nhân nghĩa của toàn dân. Có tiếng hào hùng, có tiếng bi thiết; có khải hoàn ca, và cũng có khúc bi ca. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, người Việt vẫn không nguôi hy vọng.

Quyền lên tiếng nói là một quyền hết sức thiêng liêng. Bởi nền văn học ấy được viết bằng máu, bằng nước mắt, bằng tâm huyết và sinh mệnh của trăm triệu con dân Việt. Sông núi nước Nam (Lý Thường Kiệt) vẫn vang lên từ ngản năm trước. Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đem khí phách và cốt cách Việt hội nhập với dòng chảy lịch sử nhân loại. Tư tưởng “sống đánh giặc thác cũng đánh giạc” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiều) làm khiếp vía mọi kẻ thù. Đấy là sự vĩ đại của văn học Việt mà không giải Nobel Văn chương nào sánh được.

Tuy vậy, lấy nhiệm vụ “phản ánh hiện thực” làm mục đích, văn học Việt chỉ dừng lại ở việc ghi chép sự việc, thiếu những sáng tạo nghệ thuật tiên phong. Nhà văn Việt chỉ miêu tả lại những gì đã xảy ra, thuật lại những biến động chính trị xã hội, qua đó phô bày ra những cảm nhận, nghĩ suy của Cái Tôi với tư cách là người trong cuộc. Đó là sự tích góp, nhặt nhạnh những miếng, những “mảnh hiện thực” (“muốn viết gì thì viết”), theo những góc nhìn rất khác nhau. Dù có những mảnh lấp lánh. Chưa một tác giả nào viết được những bộ sử thi có tư tưởng và nghệ thuật mang tầm vóc nhân loại về dân tộc mình.

 Một thời đại văn học đã qua đi. Mọi cơ may sáng tạo đã vuột mất. Những người đi trước đã thành thiên cổ. Nhưng họ đã đặt được những cột mốc, những đỉnh thi sơn. Và những giá trị văn hóa, tư tưởng họ đã làm ra sẽ còn mãi.

“Kỷ nguyên mới” đang mời gọi. Nhà văn Việt Nam hãy kế tục truyền thống để viết những tác phẩm xứng tầm với lịch sử và cốt cách của dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại.

Xin gửi lời chào đến mai sau!

Tháng 6/ 2026

 

***

[1] Xin bạn tải về đọc theo link:

VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM-Những gì còn lại với mai sau:

https://www.mediafire.com/file/puzuaoaz6lga0ho/VCVN-Nh%25E1%25BB%25AFng_g%25C3%25AC_c%25C3%25B2n_v%25E1%25BB%259Bi_mai_sau_pdf.pdf/file

https://drive.google.com/file/d/1SGpsr_TP3myhAUYN3DtKiULIUjIqPTtB/view?usp=drive_link

50 NĂM VĂN HỌC VIỆT NAM:

https://www.mediafire.com/file/x56yt1btpkjbbot/3_50_N%25C4%2582M_VHVN-Nxb_HNV_2026.pdf/file

https://drive.google.com/file/d/1KyEEspO6ZWEnIqbvvnrnylcJTwnOdpE0/view?usp=drive_link

45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI

https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link

https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file

VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

https://www.mediafire.com/file/966mrarfxwi0g6j/8_VHCGVN_duong_dai-B%25C3%25B9i_C%25C3%25B4ng_Thu%25E1%25BA%25A5n.pdf/file

-https://drive.google.com/file/d/1bwLXU_5o5_w8axwAxKcnNDLOMJMeFnNc/view?usp=drive_link

[2] Xem: Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12-11-2021, của Thủ tướng Chính phủ, về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030, Cổng thông tin điện tử Chính phủhttps://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/vbpq/2021/11/1909.signed_01.pdf

[3] Quyết định số 1909/QĐ-TTg, ngày 12/11/2021 “Về việc phê chuẩn chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2030”.

[4] Nhà thơ Nguyễn Hữu Hồng Minh: “19 năm trước, “Lỗ thủng lịch sử” đã khiến tôi lên bờ xuống ruộng!”

https://danviet.vn/nha-van-nguyen-huu-hong-minh-khong-buon-vi-bi-loai-khoi-hoi-nha-van-ma-lo-cho-van-hoc-viet-nam-20220213154932015-d1001469.html

[5] Danh sách đại biểu Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X. 2022

Danh sách đại biểu Hội nghị Những người viết văn trẻ toàn quốc lần X

 

[6] Trần Ngọc Hiếu-Tìm hiểu một quan niệm nghệ thuật về ngôn từ trong thơ Việt đương đại

https://hieutn1979.wordpress.com/tag/le-dat/

[7] Nguồn: Báo Văn nghệ, Hà Nội, số 49 & 50 (5-12-1987). https://vanviet.info/tu-lieu/hy-doc-loi-ai-dieu-cho-mot-giai-doan-van-nghe-minh-hoa/

[8] Nguyễn Khải-Đi tìm cái tôi đã mất.https://daohieuvn.wordpress.com/2000/05/26/nguyen-khai/

[9] Hoàng Ngọc Hiến-“Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”. Nguồn: Văn nghệ số 23, ra ngày 9/6/1979.

 

 

[10] Báo Văn Nghệ in truyện Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp này ngày 20-6-1987. https://cuoituan.tuoitre.vn/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu-757242.htm

[11] Thụy Khuê-“Hai mươi nhăm năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2000”.

http://thuykhue.free.fr/tk99/tiepcan.html

[12] Ngu Yên-“50 năm văn học Việt nhập cư 1975-2025”, Phân lý và phê bình. Nxb Hội Quán Văn Hóa Việt 2026

[13] Nguyễn Vy Khanh-Văn học Việt Nam 50 năm hải ngoại. Nxb Nguyện (Toronto) 2025.

[14] Văn-học Việt Nam 50 năm hải-ngoại của Nguyễn Vy Khanh

https://vanviet.info/tren-ke-sach/van-hoc-viet-nam-50-nam-hai-ngoai-cua-nguyen-vy-khanh/

[15] Trần Doãn Nho tên thật là Trần Hữu Thục, sinh năm 1945 tại Huế. Ông tốt nghiệp ngành Triết tại Đại học Huế và Sài Gòn. Trước 1975 dạy Triết, viết văn, viết báo. Sau 1975, ông học tập cải tạo đến 1981. Năm 1993, định cư ở Massachusetts.

[16] Văn học Việt Nam ở hải ngoại: những vấn đề của sự phát triển hiện nay http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/nghien-cuu/ket-noi-van-hoa-viet/6567-v%C4%83n-h%E1%BB%8Dc-vi%E1%BB%87t-nam-%E1%BB%9F-h%E1%BA%A3i-ngo%E1%BA%A1i-nh%E1%BB%AFng-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%A7a-s%E1%BB%B1-ph%C3%A1t-tri%E1%BB%83n-hi%E1%BB%87n-nay.html

[17] Hai lá thư của Hữu Thỉnh và Phan Nhật Nam. 2017

NGHĨ VỀ THƯ CỦA NHÀ THƠ HỮU THỈNH VÀ THƯ TRẢ LỜI CỦA NHÀ VĂN PHAN NHẬT NAM.

[18] Nguyễn Vy Khanh-“44 năm văn học Việt Nam hải ngoại 1975-2019”.

https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=26413

[19] Lê Thị Huệ- diễn ngôn của chủ biên mở đầu buổi sinh hoạt 20 năm Gió-O nắn Net,  Đại học UC Berkeley, California chiều Chủ Nhật 19/12/2021. https://www.gio-o.com/GioO10Nam/20LeThiHueMoDau.htm.

[20] Bùi Công Thuấn-Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng trần truồng. https://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=7162

[21] Nhà văn Nguyễn Thanh Việt: Tôi chỉ quan tâm đến những cuốn sách vĩ đại (Đào Lê Na)

https://hcmussh.edu.vn/tin-tuc/nha-van-nguyen-thanh-viet-toi-chi-quan-tam-den-nhung-cuon-sach-vi-dai?

[22] Dẫn theo A.A.Sokolov, PGS-TS Sử học, Viện Phương Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga.

“Văn học Việt Nam ở hải ngoại, những vấn đề của sự phát triển hiện nay”.

Loading

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok