NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG

(Đọc Bồ câu không đưa thưCho tôi xin một vè đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh)

Bùi Công Thuấn

***

BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK:

https://www.mediafire.com/file/rr7dwb918f0ofcj/NGUYỄN+NHẬT+ÁNH+&VĂN+CHƯƠNG+THỊ+TRƯỜNG.pdf/file

Ở Việt Nam, cho đến nay, đã hình thành 3 dòng văn học: Văn học cách mạng và kháng chiến, Văn học Nhân văn-Dân chủ và Văn chương thị trường. Giai đoạn văn học 1975 – 2025 đã qua đi. Văn chương thị trường sẽ tiếp tục phát triển trong bối cảnh kinh tế thị trường toàn cầu hóa. Nguyễn Nhật Ánh là một nhà văn thành công trong sáng tác cho độc giả thị trường. Bài viết này chỉ lả những ghi nhận bước đầu.

***

Vài ghi chú về

BỒ CÂU KHÔNG ĐƯA THƯ (1993)

1.NGUYỄN NHẬT ÁNH (tổng hợp tư liệu)

Nguyễn Nhật Ánh sinh ngày 7/5/1955 tại làng Đo Đo, xã Bình Quế, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Từ những năm 1970, ông đã tham gia vào các hoạt động văn nghệ tại Sài Gòn và viết những tác phẩm đầu tay.

Từ năm 1973, ông chuyển vào sống tại Sài Gòn, theo học ngành Sư phạm. Ông đã từng tham gia Thanh niên xung phong, dạy học môn Văn tại trường THCS Bình Tây (Quận 6 – 1983 – 1985).

Ông phụ trách mục tiểu phẩm, trang thiếu nhi và bình luận thể thao trên báo Sài Gòn Giải Phóng số chủ nhật với các bút danh Chu Đình Ngạn, Đông Phương Sóc, Sóc Phương Đông. Ông cũng phụ trách mục Vườn Hồng của nhật báo Thanh Niên, giải đáp các thắc mắc về tình yêu, dưới bút danh Anh Bồ Câu.

Những năm từ 1990 đến 2000, Nguyễn Nhật Ánh nổi bật với nhiều tác phẩm như “Chú bé rắc rối”, “Kính Vạn Hoa” và “Mắt biếc”.

Ông đã xuất bản hơn 100 tác phẩm, đạt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (1999), Giải thưởng Văn học Đông Nam Á (ASEAN) năm 2010 với tác phẩm “Cho tôi xin một vé về tuổi thơ”.

Truyện Nguyễn Nhật Ánh viết về tuổi thơ, tuổi học trò, tình bạn, tình yêu, và tâm tư của thế hệ trẻ.

  1. TÓM TĂT TÁC PHẨM

Bồ câu không đưa thư xoay quanh việc truy tìm tác giả những lá thư làm quen của một người ký tên Phong Khê gửi cho Thục. Nhóm bạn gồm có Thục, Xuyến, Cúc Hương. Tham gia vào câu chuyện còn có Hoàng Hòa (lớp trưởng) và Phán Củi (người được nhóm bạn nhờ làm thơ). Cả Hoàng Hòa và Phán Củi đều có tình riêng với Thục, nhưng giấu kín trong lòng.

Thục nhận được thư “Cho mình làm quen với” của Phong Khê ở trong hộc bàn học.  Thục hỏi ý kiến Xuyến và Cúc Hương, về việc có nên trả lời thư hay không. Xuyến giúp Thục hồi âm thư  “dạy dỗ” cho “thằng bé” dám trêu chọc Thục.

Phong Khê hồi âm. Hắn tiếp tục xin làm quen, đồng thời gửi trái ổi. Cả bọn nhờ lớp trưởng Hoàng Hòa xử, anh chàng này hàng ngày có để ý Thục. Hòa đề nghị trả lại “quà” của Phong Khê, hoặc nhờ cô chủ nhiệm ngăn chặn, nhưng cả bọn không chịu.

Vì thư của Phong Khê là thơ nên cả bọn bèn nhờ Phán Củi  làm thơ trả lời. Phán làm thơ theo ý 3 bạn gái, lần này đòi thêm 3 trái xoài. Phán được cả bọn mời đi ăn chè, nhưng Phán phải trả tiền. Phán biết mình hớ.

Phong Khê lại gửi thơ, ỡm ờ hẹn gặp. Cả bọn lại nhờ Phán làm thơ song thất lục bát đáp trả. Lần này Phong Khê im lặng. Phán bị Xuyến và Hương truy sát vì đăng thơ trên Mực Tím khen Thục. Cả bọn ép Phán phải làm thơ dụ Phong Khê trở lại.

Phong Khê tiếp tục im lặng. Ba cô gái cuống lên, viết thư (làm thơ) xin lỗi Phong Khê. Hắn hẹn thi HK2 xong sẽ trở lại. Vì sắp ra trường, cả bọn lên kế hoạch tìm xem Phong Khê là ai. Riêng Thục cảm thấy bối rối.

Nhóm bạn đình chiến để ôn thi. Kết quả thi tốt. Lại tiếp tục kế hoạch. Cúc Hương được cử đi do thám lớp học của Phong Khê. Nó theo cô chủ nhiệm Tường Anh vào trường buổi sáng để làm điểm, rồi xin phép ra ngoài, lẻn đến phòng lớp 11A3. Nó há hốc mồm khi nhìn vào chỗ Phong Khê ngồi. Ở chỗ ngồi ấy là một bạn gái. Hóa ra Phong Khê là con gái. Hương đi điều tra lại, lớp 11A3 không có ai tên Phong Khê. Bàn của Thục ngồi còn có 2 cô gái nữa.

Hoàng Hòa gửi thư mời Thục đi xem vở kịch “Tình nghệ sĩ” ở nhà hát Hòa Bình. Xuyến và Cúc Hương bảo Thục nhận lời. Hai đứa ngầm đi theo Thục để hỗ trợ. Vì cả bọn biết Hoàng Hòa có tình riêng với Thục.

Tiếp tục truy lùng Phong Khê, cả bọn đi theo ba đứa con gái 11A3 ngồi cùng bàn Phong Khê. Xuyến đi theo con nhỏ mà nó tin chắc là đứa đóng vai Phong Khê. Con nhỏ vào nhà. Rồi trong nhà có người dắt xe đi ra. Nó vô cùng ngạc nhiên.

Người đi ra là Hoàng Hòa.Xuyến khám phá ra bí mật này: thì ra, cô gái đóng vai Phong Khê là em Hoàng Hòa, học lớp 11A3. Hòa nhờ em chuyển thư cho Thục. Sau phát hiện này, Xuyến, Hương, Thục bàn kế hoạch lật mặt Hoàng Hòa trong buổi tối đi xem kịch. Cả bọn rủ Phán Củi  cùng đi nhưng Phán có tin bố mất, phải về quê chịu tang, không đi theo 3 cô gái được. Thục nhìn Phán đi, mắt cay cay.

Cả bọn đón Hoàng Hòa ở quán nước trước cổng nhà hát Hòa Bình. Bị tra vấn về Phong Khê, Hoàng Hòa phủ nhận tất cả sự việc đã xảy ra. Anh nói không biết Phong Khê là ai. Cãi không lại Xuyến, Hòa bỏ về. Hòa nói, sẽ hỏi lại Hoàng Hoa là em gái học 11A3.

Phán củi trở lại trường. Xuyến kể cho Phán nghe chuyện điều tra Phong Khê. Phán góp ý, cả bọn hãy viết thư hẹn gặp Phong Khê. Thục tin rằng Hoàng Hòa là Phong Khê. Hòa sẽ không đến. Nhưng cả bọn lại nhận được thư Phong Khê hẹn “Mình sẽ đến”.

Chiều hôm ấy Phán đạp xe theo ba cô gái đến hồ Con Rùa. Cả bọn tấp xe vào quán Dạ Lan. Mặc cho hai cô gái “tấn công”, Phán chỉ ngồi cười cười. Hoàng Hòa xuất hiện. Anh chạy chiếc Cup 82. Lượn vòng cung quanh bờ hồ, hướng về phía quán Dạ Lan. Anh thản nhiên lướt qua mặt bọn Xuyến, đảo một vòng rồi chui tọt vào đường Võ Văn Tần, mất hút. Ba cô gái chỉ biết giương mắt ngơ ngác nhìn theo. Cả bạn đổ lỗi cho Phán Củi. Có lẽ Hòa thấy Phán nên bỏ chạy.

Xuyến tuyên bố:- Kể từ giờ phút này, tao tuyên bố “khai tử” nhân vật Phong Khê. Tụi mình đừng bao giờ nhắc đến hắn nữa. Rồi Xuyến quyết định bàn giao Thục cho Phán: “từ ngày mai trở đi, bạn được quyền đi chơi chung với tụi này, được quyền làm thơ tặng con Thục tha hồ, mỗi ngày mười bài cũng được, rồi mỗi khi tụi này đi ăn đi uống, bạn lại được quyền trả tiền thoải mái”.

Phán nói, ngày mai Phán sẽ về quê luôn để chăm sóc mẹ, không lên nữa, không thi tốt nghiệp, không thi Đại học. “Phán ngạc nhiên khi thấy mắt Thục đỏ hoe. Một nỗi xúc động dạt dào dâng lên trong lòng khiến Phán mừng mừng tủi tủi. Anh sẽ không làm thơ cho ai, ngoài Thục. Anh muốn nói với Thục bao nhiêu là chuyện.

Cả bọn ghi địa chỉ cho Phán. “Cho đến lúc ấy, Thục vẫn không hiểu nỗi xúc động rưng rưng của mình xuất xứ từ lòng cảm thương số phận không may của một người bạn hay đó chính là nỗi niềm vương vấn lúc chia tay”.

Lớp tổ chức liên hoan cuối năm. Cả bọn hỏi tội Hoàng Hòa. Anh đưa lá thư của Phong Khê cho cả bọn đọc. Hóa ra, Phong Khê là Phán Củi (đã về quê không dự liên hoan). Cả bọn ngậm ngùi nhớ lại. Nhưng họ mau chóng bỏ qua để nhập vào buổi liên hoan.

Ngày mai, khi bước ra khỏi mùa hè rực rỡ và hiu quạnh đang đợi chờ, Thục sẽ vĩnh viễn bỏ lại sau lưng mình quãng đời học trò áo trắng. Và trên chặng đường thênh thang sắp tới, mãi mãi sẽ trống vắng một bóng người lặng thầm đi bên cạnh Thục…”

3.GHI NHẬN

1.Truyện của Nguyễn Nhật Anh hấp dẫn. Ông sử dụng nhiều yếu tố kỹ thuật để dựng truyện: Lời văn dung dị, Truyện được kể bằng những đoạn đối thoại như trong phim kịch, nhờ thế trang văn trở nên sinh động. Trong đối thoại, nhân vật chen vào một số khẩu ngữ đương đại, đem truyện trở về với đời thực.

Cốt truyện được cấu trúc hợp lý, kín nhẽ. Mạch truyện luôn có biến cố bất ngờ. Chất trinh thám điều tra (tạo sự tò mò), kết hợp với kiểu chuyện tình học trò lãng mạn (khơi gợi tâm lý nam nữ) cùng với những trò nghịch ngợm trẻ con (thách đố trí tuệ sáng tạo), làm thay đổi liên tục cảm xúc của bạn đọc.

Truyện tạo ra không khi vui tươi, sự thú vị ngạc nhiên và cảm xúc lãng mạn, một chút buồn man mác, mau qua, như những cảm xúc của nhóm bạn Thục, Xuyến, Hương, đối với hoàn cảnh đáng buồn của Phán Củi.

  1. Nội dung truyện, đọc chỉ để giải trí, không đề xuất được vấn đề tư tưởng hay những quan tâm về thực trạng xã hội nào. Nguyễn Nhật Ánh chỉ kể lại trò nghịch ngợm của tuổi học trò, thoáng qua, không hướng đến những vấn đề nhân sinh.

Đời sống của các bạn trẻ lớp 12 phong phú biết bao nhiêu đã không được nhà văn khám phá. Gia đình, nhà trường, xã hội nặng lòng với con em mình về bao vấn đề: thi tốt nghiệp, thi vào đại học, hoặc học nghề, chọn con đường vào đời, tiền bạc đâu để ăn học; tình trạng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, bạn trẻ đi sau sẽ vượt lên cách nào; chuyện tình cảm, quan hệ nam nữ, chuyện hôn nhân… và bao nhiêu điều lo lắng khác, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc xâm lăng văn hóa từ bên ngoài đang làm sụp đổ nhiều giá trị truyền thống… những điều như thế không tìm thấy sự chia sẻ trong Bồ câu không đưa thư!

  1. Bồ câu không đưa thư không miêu tả nhân vật trong bối cảnh xã hội. “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Thiếu những phẩm chất xã hội, nhân vật trở thành siêu hình.

Điều này không phải Nguyễn Nhật Ánh không biết, nhưng vì mục đích viết truyện giải trí, chạy theo thị hiếu thị trường, nhà văn đã bỏ qua những nguyên tắc kiến tạo tác phẩm.

Các nhân vật không có chân dung, không có nhân thân, không có gia cảnh, không hiện lên với những quan hệ xã hội cùng với đời sống tâm hồn phức tạp của một con người trong đời thực. Nhân vật trong Bồ câu không đưa thư chỉ là hình bóng những cô cậu học trò, thấp thoáng trong sân trường, với những trái ổi, trái xoài, ngồi ở quán nước, tụ tập chỗ này, chỗ kia (Nhà hát, Hồ Con Rùa) để “tám” rồi hoạch định những trò nghịch ngợm trẻ con.

Môi trường sinh hoạt của nhân vật cũng không được định vị. Thục, Xuyến, Hương, Hòa, Phán, học ở một ngôi trường có quy mô thế nào, cảnh quan ra sao, nề nếp sinh hoạt, học tập có gì đặc biệt? Hồ Con Rùa và đường Võ Văn Tần là hai chi tiết hiện thực rất hiếm hoi. Tất cả sự vận động của các nhân vật đều không được đặt trong không gian, thời gian và bối cảnh thời đại cụ thể. Đó là Sài Gòn những năm tháng nào? Lưu ý rằng, nữ sinh Sài Gòn trước 1975 rất khác với nữ sinh TP Hồ Chí Minh những năm 1990 (tác phẩm này xuất bản 1993).

Truyện chỉ có đối thoại suông. Các nhân vật gặp nhau, nói “chuyện tào lao”, phân tích những lá thư nhận được để tìm hiểu “địch-ta” rồi đề ra kế hoạch đánh địch. Hành động truyện rất đơn điệu. Chỉ có vài hành động: Hương đến trường rình mò Phong Khê ở phòng học lớp 11A3; cả bọn chặn Hoàng Hà ở quán nước trước nhà hát Hòa Bình; cả bọn ngồi chờ gặp Phong Khê ở Hồ con Rùa theo thư hẹn. Mạch truyện trôi đi theo kiểu truyện trinh thám, các nhân vật đi tìm kẻ lạ mặt. May nhờ có những tình huống bất ngờ và cốt truyện biến hóa nên giữ được sự hấp dẫn đối với bạn đọc

  1.  Truyện giải trí.có giá trị gì

Người đọc tự hỏi lý tưởng, tương lai và con đường vào đời của bạn trẻ là gì; họ không hề có ý niệm gì về quê hương, đất nước, thời đại và sứ mệnh tuổi trẻ của mình. Nhà văn không miêu tả thế giới tâm hồn của họ, không khám phá xem họ nghĩ gì về số phận, họ sẽ thiết kế cuộc đời họ thế nào trong hoàn cảnh toàn cầu hóa? Ngay cả tình bạn và tình yêu của người trẻ cũng không được khám phá và chia sẻ. Những rung độn trong tâm hồn Thục rất mơ hồ và thoáng qua nhanh, không rõ là rung động gì. Và như thế, những trò nghịch của nhóm bạn này có giá trị gì?

Hơn thế, Nguyễn Nhật Ánh bỏ mặc Phán Củi tự lặn ngụp trong thảm cảnh của anh ta. Bố Phán chết. Phán phải bỏ thi tốt nghiệp, bỏ thi vào đại học, để về quê chăm sóc mẹ. Và phải tự tìm một nghề gì đó để kiếm sống. Cả nhóm bạn không ai đặt ra phương án nào đó để giúp Phán. Họ quên Phán ngay khi tiếng pháo liên hoan lớp nổ vang.

Đó là sự vô cảm, một nhát chém lạnh lẽo cắt đứt tất cả. Tư tưởng thực dụng lên ngôi.

Điều này làm hỏng toàn bộ giá trị ngòi bút của Nguyễn Nhật Ánh.

  1. Công bằng mà nói, Bồ câu không đưa thư còn giữ được sự “sạch sẽ” nhất định nếu so với nhiều tác phẩm khác của văn chương thị trường.

Văn chương thị trường Việt Nam đầy dẫy sex vô luân, đầy dẫy những yếu tố đồi trụy, đấy dẫy những tư tưởng độc hại. Chẳng hạn: sự cổ vũ cho chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thế tục; sự lợi dụng những tiêu cực của chủ nghĩa Hậu hiện đại để “giải thiêng” những tín niệm của dân tộc, và phơi bày một lối sống vô văn hóa (xin đọc Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu, Nháp của Nguyễn Đình Tú…)

Nói gọn một câu:

Hiện thực đời sống của bạn trẻ lớp 12 rất phong phú, phức tạp, nhưng Nguyễn Nhật Ánh chỉ nhặt lấy một trò nghịch ngợm để viết thành tiểu thuyết giải trí kiểu tình cảm-trinh thám.

Văn học có nhiều chức năng xã hội, có nhiều giá trị quan trọng đối với đời sống tinh thần của cộng đồng, góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đó là giá trị hiện thực, giá trị tư tưởng, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục, giá trị thẩm mỹ, … Nguyễn Nhật Ánh gạt bỏ tất cả các giá trị ấy, chỉ còn giữ lại một chút giá trị giải trí.

Điều này có thể lý giải tại sao các nhà nghiên cứu văn học không quan tâm đến văn chương thị trường, bởi vì văn chương thị trường chỉ là văn chương giải trí. Trước 1945, Lê Văn Trương đã viết hơn 200 tác phẩm. Nhưng văn học Việt Nam, trong tiến trình lịch sử, đã định vị Nam Cao ở một vị trí quan trọng hơn Lê Văn Trương rất nhiều.

***

Bồ câu không đưa thư có thể đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận bạn đọc, song nó không giúp ích gì cho ngưởi trẻ vào đời, và không có chỗ đứng trong sự phát triển của văn học Việt Nam đương đại

Tháng 6/ 2026

_______________________

CHO TÔI MỘT VÉ ĐI TUỔI THƠ

Và những “bài học làm người lớn” của Nguyễn Nhật Ánh

Bùi Công Thuấn

***

“…để sống tốt hơn đôi khi chúng ta

                                                                                                                              phải học làm trẻ con trước khi

                                                                                                                                               học làm người lớn

(Nguyễn Nhật Ánh)

 

Tôi ghi lại vài cảm nhận khi đọc “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” của Nguyễn Nhật Ánh [[1]]. Tác phẩm này đạt Giải thưởng Văn học ASEAN năm 2010.

Dẫu vậy, theo tôi, tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh thuộc “văn chương thị trường”. (Những chữ in nghiêng là trích dẫn từ tác phẩm).

  1. TRUYỆN CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ 8 TUỔI

Nhân vật Tôi (tôi viết hoa tên nhân vật), tên gọi ở nhà là Mùi, trên 40 tuổi, thành đạt, kể lại việc viết một cuốn sách về những trò nghịch của mình lúc 8 tuổi và nhóm bạn là Hải cò, Tý sún và Tủn (tác giả không ghi năm tháng cụ thể).

Tôi cho biết:

cuốn sách này đã được viết ra. Nó đã được bắt đầu vào một ngày 8 tuổi tôi thấy cuộc sống sao mà tẻ nhạt và kết thúc vào một ngày 8 tuổi khác tôi khám phá ra cuộc sống không còn tẻ nhạt nữa, nhưng sao mà buồn quá (chương 11)…

Tôi cùng Hải cò, con Tủn và con Tí sún nghĩ ra hết trò này đến trò khác để thu xếp cuộc sống theo ý mình, trong đó lắm trò ngu ngốc nhưng cũng không ít trò thông thái”.

Đó là những gì tôi nghiền ngẫm và đúc kết vào lúc tôi 40 tuổi hay hơn một chút, tức là lúc tôi đã đủ trưởng thành” (chương 4)…

Tôi đã kể lại: (theo thứ tự chương của cuốn sách) cảm giác tẻ nhạt trong mọi sinh hoạt hàng ngày. Đó là nguyên nhân Tôi muốn sống khác đi. Tôi cùng các bạn: Hải Cò, Tý Sún, Tủn, chơi nhiều trò nghịch ngợm, gây ra những hậu quả tai hại: trò chơi vợ chồng; trò chơi đặt tên khác cho sự vật để định nghĩa lại thế giới; trò chơi hò hẹn tình yêu của người lớn -có cả hẹn lên giường; Tôi lý giải chuyện trẻ con trở chứng là chúng muốn làm người hùng; trò chơi tìm kho báu – nhóm bạn không ra đảo hoang, không lên rừng, mà đào bới phá nát khu vườn nhà Hải Cò. Vì thế, chúng Tôi bị gọi là lũ giết người (chương 8).… Chúng Tôi còn“tiếp tục bày ra hàng mớ những trò quái chiêu khác, như nhúng đầu vào lu nước, chạy như điên trong đêm , ngửa tấm kiếng soi mặt trong đáy thau để xem cầu vồng hiện lên khi mặt trăng chiếu vào… Trò thú vị nhất là nuôi chó hoang”…

“…Tôi còn bày cho Hải cò nhiều chuyện lạ khác nữa. Hết uống, tôi chuyển sang ăn. Tôi không thèm bới cơm vô chén như trước nay…tôi đổ cơm và thức ăn vào chiếc thau nhôm, trộn lên như một món thập cẩm. Rồi bưng cái thau ra ngoài hè, tôi ngồi xổm nhìn ra đường vừa lấy muỗng xúc cơm tọng vô miệng, cảm thấy cuộc sống vô cùng tươi đẹp” (Chương 6).

Kể lại những chuyện đó, Tôi, ở tuổi 40, so sánh thế giới tâm hồn trẻ con với người lớn, từ đó đề xuất với các bậc cha mẹ, phụ huynh những ý kiến của Tôi về tuổi thơ và yêu cầu giáo dục trẻ.

Trẻ con tuy nghịch ngợm, phá phách, nhưng “Trẻ con cũng yêu ba mẹ, cũng biết ba mẹ yêu mình nhưng đón nhận sự chăm sóc đó một cách hồn nhiên, chả nghĩ ngợi gì. Lòng hiếu thảo đối với ba mẹ, chỉ người lớn mới cảm nhận đầy đủ. Đặc biệt khi người lớn đó sinh con, nuôi con và vất vả vì con thì sự cảm nhận đó càng sâu sắc hơn nữa. Vì vậy mà các bậc làm cha làm mẹ không nên lo lắng thái quá ( khi tôi khẳng định rằng mọi đứa trẻ trên thế giới này đều từng oán trách ba mẹ) vì những đứa con oán trách ba mẹ nhiều nhất sau này sẽ là những đứa con biết ơn ba mẹ nhiều nhất, trong đó có cả lý do là hồi nhỏ đã trót oán trách ba mẹ nhiều quá.” (chương 12)

Vì thế: “để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn, tôi đã nghĩ như vậy khi ngồi cặm cụi gõ cuốn sách này” (chương 12-kết truyện)

Đây là một lý giãi:

Chẳng qua so với người lớn, trẻ con sống trong một bầu khí quyển khác và dưới một thứ ánh sáng khác. Ở đó, bọn trẻ tiếp cận thế giới theo cách của chúng, nghĩa là chúng không nhìn mọi thứ chung quanh dưới khía cạnh sử dụng. Đó là điểm khác biệt căn bản giữa trẻ con và người lớn.”(chương 6.)

Đây là bài học Tôi rút ra:

Sau này khi đã là một ông bố, tôi luôn thận trọng khi quở trách con cái để tránh xảy ra những vụ án oan. Nhưng thú thật, xóa nhòa được lằn ranh giữa trẻ con và người lớn cũng khó ngang với việc xóa bỏ ranh giới giàu nghèo trong xã hội. Về tâm lý, người lớn luôn cho mình đứng về phía chân lý, nếu xảy ra một sai lầm nào đó thì phần lỗi đương nhiên thuộc về trẻ con” (Chương 9).

  1. THAM LUẬN HAY TIỂU THUYẾT

            Nói thật đúng, về thể loại, “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” là một “tự truyện” của nhân vật Tôi.

Tôi kể về những trò nghịch ngợm ở tuổi lên 8, kể lại quá trình viết cuốn sách này và đối thoại với bạn đọc về những “bài học” ở đời, rút ra trải nghiệm tuổi lên 8 của mình.

Tôi khẳng định đây là một tham luận.

“…Sẵn đây, tôi tiết lộ luôn: thực ra cái tôi đang viết không phải là một cuốn tiểu thuyết.

Thực tế đây là một bản tham luận mà tôi định sẽ trình bày trong cuộc hội thảo Trẻ em như một thế giới do Ủy ban UNESCO tại Việt Nam phối hợp với Bộ giáo dục tổ chức, với sự góp mặt của các nhà nghiên cứu giáo dục, các chuyên gia tư vấn tâm lý, các nhà báo phụ trách mảng học đường và giáo dục gia đình, cuối cùng là các nhà văn viết cho trẻ em.

Tất nhiên đây là bản tham luận sẽ không bao giờ được đọc trên diễn đàn, thậm chí không được gửi tới cuộc hội thảo theo đúng kế hoạch trước đó”…(Chương 5)

…”bây giờ thì những gì tôi viết ra không phải để trình bày trong cuộc hội thảo Trẻ em như một thế giới nữa. Con Tí sún đã bày cách cho tôi: Tham luận trong một hội thảo khoa học đương nhiên buộc phải đề cao tính xác thực, đó sẽ là lý do để Hải cò và con Tủn phản đối thậm chí kiện cáo về những gì tôi mô tả về tụi nó, nhưng nếu đây là một cuốn tiểu thuyết thì quyền hư cấu của tác giả sẽ đảm bảo cho tôi tránh xa những kiện tụng lằng nhằng. Thậm chí nếu cần tôi sẽ đế một dòng chữ ngay trang đầu cuốn sách” Tất cả những nhân vật và tình tiết trong cuốn sách này đều do tác giả tưởng tượng ra, nếu có sự trùng hợp ngẫu nhiên thì đó là chuyện ngoài ý muốn, tác giả không chịu trách nhiệm”. Tôi đã từng thấy những cuốn sách ghi như thế, và thật mừng là con Tí sún đã ân cần nhắc cho tôi nhớ điều đó”(Chương 10).

Vậy, Cho tôi một vé đi tuổi thơ  là Tham luận hay Tiểu thuyết?

Hẳn nhiên bạn đọc sẽ nghĩ, Giải thưởng ASEAN dành cho cuốn sách là những miêu tả, những khám phá, và những ý kiến của Nguyễn Nhật Ánh về giáo dục trẻ. Và vì thế Cho tôi một vé đi tuổi thơ là một tham luận. Nhân vật Tôi trình bày ý kiến “nghiên cứu” trẻ con của mình, rồi kể chuyện của chính mình để khẳng định tính chân lý của những bài học giáo dục ấy.

Trong tác phẩm, Tôi trình bày rất nhiều nhận thức cá nhân ở dạng VĂN NGHỊ LUẬN. Những ý kiến này mang dáng vẻ những “triết lý”, những chân lý “sống trên đời” (bài học kinh nghiệm) về nhiều lĩnh vực.

Con Tí sún hỏi tôi “tại sao“, “- một câu hỏi mang mầm mống triết học. Để nỗ lực trả lời một câu hỏi mang mầm mống triết học, bất cứ ai cũng có thể trở thành triết gia, cho dù người đó không cố ý và chỉ mới có tám tuổi” (chương 3).

Đây là những câu hỏi:

Tại sao khi mưa trời lại có sấm sét?

Tại sao tóc chỉ mọc ở trên đầu?

Tại sao chúng ta lại ăn Tết?

Tại sao đường lại ngọt còn muối thì mặn?

Tại sao máu có màu đỏ?

Tại sao con cò khi ngủ lại co một chân?

Tại sao đàn ông có vú?

Tại sao trái đất quay quanh mặt trời?

…Nhưng đến những câu hỏi kiểu như “Tại sao chúng ta được sinh ra?”, “Tại sao chúng ta phải sống?”, “Tại sao chúng ta phải chết?”, thì các nhà khoa học cũng bó tay. Những thắc mắc lúc này đã trở nên siêu hình và bắt đầu đặt chân vào lãnh vực của triết học. Thái tử Tất Đạt Đa từng đi tìm lời giải đáp cho vấn nạn cơ bản này – nhằm giải mã ý nghĩa của sự tồn tại, để cuối cùng trở thành một nhà khai sáng thuộc loại vĩ đại bậc nhất thế giới dưới cái tên Thích Ca Mâu Ni.”

Tôi “Luận” về ngủ trưa:

“Nhưng nếu bạn sống trên đời mới có tám năm thì bạn không có lý do chính đáng để coi trọng giấc ngủ trưa. Với những dân tộc không có thói quen ngủ trưa, như dân Mỹ chẳng hạn, trẻ con càng không tìm thấy chút xíu ý nghĩa nào trong việc phải leo lên giường sau giờ cơm trưa.

Hồi tôi tám tuổi dĩ nhiên tôi không có được cái nhìn thông thái như thế. Nhưng tôi cũng lờ mờ nhận ra khi ba tôi đi ngủ thì Tôi buộc phải đi ngủ, giống như một con cừu còn thức thì người chăn cừu không yên tâm chợp mắt vậy” (Chương 1).

Tôi “Luận” về tình yêu

Rồi bạn hãy ngẫm tiếp: Có phải khi yêu nhau chàng vẫn thích dẫn nàng đi ăn ở ngoài? Nhiều tiền thì vào nhà hàng sang trọng hoặc khu ăn uống ở các plaza, ít tiền thì vào các quán ăn bình dân, ít tiền hơn cả ít tiền thì ra ngoài lề đường ngồi lai rai nghêu sò ốc hến. Còn hôm nào rỗng túi thì chàng quyết nằm bẹp ở nhà, với lý do hết sức cao cả “Hôm nay anh bận việc cơ quan”. Chẳng chàng trai nào nghĩ đến chuyện rủ người đẹp về nhà bắt nàng nấu cho mình ăn” (Chương 4).

Tất nhiên, bây giờ thì tôi hiểu. Bây giờ, sau nhiều lần yêu, tôi nhận ra rằng không phải một cô Dung nào đó thay thế một cô Tủn nào đó trong trái tim một chàng cu Mùi nào đó sẽ làm hỏng định nghĩa về tình yêu mà vấn đề là khi một cuộc tình vừa đổ vỡ thì ngay sau đó người ta không thể nào hào hứng bắt đầu một cuộc tình mới nếu vết thương lòng chưa kịp lành miệng. Cũng như người ta không thể tiến hành tốt một cuộc chiến tranh trên đống đổ nát của cuộc chiến tranh trước đó nếu không có thời gian để hồi phục (Chương 7.)

Tôi “Luận” về nấu nướng và hạnh phúc:

Một thời gian sau nữa, tức là vào lúc tôi viết cuốn sách này, tôi trưởng thành thêm một bậc khi phát hiện ra những gì tôi nói huyên thuyên nãy giờ về mối quan hệ keo sơn giữa nấu nướng và hạnh phúc, giữa phòng ăn và phòng ngủ thực ra chẳng có gì nghiêm trọng hết.”(Chương 4).

Tôi “luận” về tiểu thuyết tình yêu:

“Từ trước đến nay, có hàng ngàn cuốn tiểu thuyết Đông Tây kim cổ viết về đề tài tình yêu, nhưng chẳng có cuốn nào đề cập đến một mối tình trong đó chàng yêu nàng vì tài làm bếp hoặc chàng bỏ rơi nàng vì món súp nàng nấu quá mặn cả. Romeo bất chấp sự hiềm khích giữa hai dòng họ để đeo đuổi Juliet chắc chắn không phải vì món chả cá của cô ta. Điều đó chẳng có gì sai, vì các nhà văn viết chuyện ái tình chứ đâu có viết chuyện hôn nhân. Do đó tôi vẫn tin rằng mối tình Romeo và Juliet sở dĩ trở nên tuyệt đẹp bởi cả hai đã chết trước khi họ kịp lấy nhau và nàng Juliet chưa có dịp nấu mì gói cho Romeo.

Bạn ngẫm mà xem: Có phải trên thực tế, cho đến khi rước được người đẹp về nhà các chàng trai gần như không có lấy mảy may cơ hội để đánh giá tài bếp núc của người bạn đời tương lai?” (Chương 4).

Tôi “Luận” việc trẻ con thay đổi thói quen ăn uống và chiến tranh Israel và Palestin:

Tôi và Hải cò thay đổi thói quen ăn uống thì đâu có ảnh hưởng gì đến hòa bình thế giới. Không phải vì bọn tôi không thích uống nước trong ly mà hết ông tổng thống này đến bà thủ tướng nọ bị ám sát. Cũng như thế, người Israel và người Palestine nã pháo vào nhau chắc chắn không bắt nguồn từ việc bọn tôi thay chén bằng thau.

Nhưng dưới mắt các ông bố bà mẹ, việc một đứa con bỗng nhiên thích ăn uống theo kiểu trái khoáy là cái gì đó hết sức nghiêm trọng, có thể không liên quan đến chiến tranh nhưng rất có khả năng dính dáng đến sự điên rồ”(Chương 6).

Tôi “Luận” về trẻ con trở chứng:

“Những ngày ngồi cặm cụi gõ những con chữ này tôi còn nghiệm ra rằng những đứa trẻ thích trở chứng là những đứa trẻ muốn thể hiện cái tôi, tất nhiên thể hiện theo kiểu trẻ con. Quay ngược cái nón lưỡi trai ra phía sau, đứa trẻ muốn khẳng định rằng ta khác với phần còn lại của thế giới, thực ra cũng khó mà khác được vì trên thế giới bao la này có rất nhiều đứa trẻ đội nón kiểu oái oăm như vậy, nhưng ít ra cũng khác với thằng bạn đi bên cạnh”.

Tất nhiên không phải đứa trẻ nào cũng thế. Cũng có những đứa trẻ thích giống nhau, bên cạnh những đứa trẻ thích khác nhau” (Chương 6).

Tôi “Luận “ về khuyết điểm ở đời:

Thực tế thì sống trên đời ai mà chẳng có khuyết điểm: Trong khi bọn trẻ con cố che giấu khuyết điểm của mình trong mắt người lớn thì người lớn cũng tìm mọi cách giấu giếm khuyết điểm của mình trước mắt trẻ con.

            Nếu làm một cuộc so sánh thì rõ ràng trẻ con làm điều đó tốt hơn và khéo léo hơn, đơn giản là trẻ con sợ bị phạt. Người lớn che giấu khuyết điểm kém hơn, không phải vì vụng về hơn, mà do họ bất chấp. Trẻ con không thể phạt họ và điều đó gieo vào đầu họ cái ý nghĩ tai hại rằng phạm khuyết điểm là đặc quyền của người lớn. Một đứa trẻ vô tình đánh một phát trung tiện giữa bàn ăn sẽ bị người lớn bợp tai ngay tức khắc nhưng nếu một người lớn cũng làm như vậy thì đứa trẻ (và những người chung quanh) chỉ biết cười xòa, trong khi thực ra cả hai đều đáng phê phán”(Chương 9).

            Tôi “Luận” về nỗi buồn:

            “ Sau này tôi mới biêt bọn con gái khi buồn khổ thường ăn nhiều. Có đứa nhờ thất tình mà mập lên. Có vẻ như khi không còn dịp nói những lời yêu thương, cái miệng đã hồn nhiên quay lại với chức năng nhai và nuốt. Nhiều cô bạn vừa ly hôn nói với tôi: Ăn vậy thôi, chẳng thấy ngon lành gì, nhưng cơ thể cứ đòi hỏi phải ăn. Hay thức ăn là thứ có thể lấp đầy nỗi buồn chăng?(Chương 10).

Tôi “Luận” về thịt chó:

Nhiều người bảo thịt chó rất ngon. Thậm chí có người bảo bên Hàn Quốc, có cả một ngành công nghệ chế biến thịt chó. Vì thịt chó là món ăn khoái khẩu của người Hàn.

Người phương Tây ghê sợ điều đó. Người phương Tây rất yêu quý vật nuôi, đến mức có người bảo rằng ở phương Tây các đối tượng mà xã hội quan tâm được xếp theo thứ tự: trẻ em, phụ nữ, chó mèo, cuối cùng mới đến đàn ông. Đó là lý do vì sao rất nhiều nhân vật nổi tiếng ở phương Tây kịch liệt phản đối khi Hàn Quốc được Liên đoàn bóng đá thế giới chọn là một trong hai quốc gia tổ chức World Cup 2002” (Chương 12).

“Luận” về các món ăn ngon:

“Thực ra, các món ăn ngon nhất luôn luôn vẫn là các thức ăn quen thuộc: các loại thịt heo, bò,gà…Trước khi heo, bò, gà trở thành gia súc, chắc chắn loài người đã có hàng ngàn năm dùng răng và lưỡi sang lọc các loại thịt trên trái đất. Tổ tiên chúng ta dĩ nhiên đã thử nếm qua các thứ thịt nai, chồn , rắn, tê tê, nhím, thằn lằn núi, đà điểu và vô số các động vật khác( bây giờ gọi là đặc sản) lẫn chó, ngựa, mèo, heo, bò, gà ( lúc đó còn gọi là chó rừng, ngựa rừng, mèo rừng, heo rừng, bò rừng, gà rừng) và cuối cùng đã đi đến kết luận: các loại thịt heo, bò, gà là tuyệt nhất. Từ phán quyết đó, heo rừng, bò rừng, gà rừng đã được nuôi dưỡng và thuần hóa để trở thành nguồn cung cấp thực phẩm vĩnh viễn cho con người. Đó là một lựa chọn vô cùng sáng suốt và có giá trị ở mọi không gian và thời gian: cho đến nay ba loại thịt trên nghiễm nhiên chiếm một vị trí không thể thay thế trên bàn ăn của mọi gia đình từ Đông sang Tây.”(chương 12)

“Luận về sự bịa đặt”:

Đôi khi vì một lý do nào đó mà chúng ta buộc phải bịa chuyện. Chúng ta cứ lặp lại mãi câu chuyện bịa đó cho đến một ngày chúng ta không nhớ có thật là chúng ta bịa nó ra hay không, rồi sau đó một thời gian nữa nếu cứ tiếp tục lặp lại câu chuyện đó nhiều lần thì chúng ta sẽ tin là nó có thật. Thậm chí còn hơn cả niềm tin thông thường, đó là niềm tin vô điều kiện, gần như là sự xác tín. Như các nhà toán học tin vào định đề Euclide hay các tín đồ Thiên Chúa tin vào sự sống lại của Jesus.”(Chương 1)

Phải chăng Tôi (Nguyễn Nhật Ánh) gọi niềm tin của tín đồ Thiên Chúa giáo là niềm tin bịa đặt? Nếu vậy, ông đã xúc phạm một cách mù quáng vào một trong những tín điều quan trọng bậc nhất của Kitô giáo! Thật đáng thương hại cho nhận thức ấu trĩ và vô trách nhiệm như vậy!

Ở chương 8, Tôi “luận” về tự do làm những gì mình thích, “luận” về tôn giáo, pháp luật, đạo đức. Và sau một đoạn dài huyên thuyên “luận giải” vấn đề,  nhân vật Tôi la lên: “Ôi, tôi lại nói lăng nhăng những gì thế này, nghĩa là Tôi tự phủ định giá trị những chân lý, triết lý mà tôi vừa “trình làng” là “lăng nhăng”.

(Ghi chú: không thể trích dẫn hết những đoạn Văn Nghị luận mà Tôi “luận” như thế)

Vâng những đoạn dài Tôi “luận” về đủ thứ vấn đề “sống trên đời” như thế, nói bằng ngôn ngữ bình dân, là “nói lăng nhăng”, những chuyện tào lao, vô bổ, nhảm nhí! Làm gì có chuyện “bọn con gái khi buồn khổ thường ăn nhiều. Có đứa nhờ thất tình mà mập lên”; làm gì có chuyện những đứa trẻ thay đổi thói quen ăn uống lại liên quan đến chiến tranh “người Israel và người Palestine nã pháo vào nhau”; Chuyện thịt chó ở Hàn Quốc và chuyện Liên đoàn bóng đá thế giới trong Worl Cup 2002 liên quan gì đến bọn trẻ 8 tuổi ở Việt Nam? Đúng là chuyện khôi hài, để đọc cho vui. Không có “vấn đề” nào là nghiêm túc. Chẳng lẽ Giải ASEAN trao cho “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” vì giá trị “Tham luận” này?

Nếu đây không phải là một “Tham luận” nghiêm túc thì giá trị còn lại của “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” là giá trị của một tiểu thuyết.

-Như tôi đã nói, có rất nhiều lý do khiến bản tham luận mà các bạn đang đọc sẽ không bao giờ được trình bày trên diễn đàn, thậm chí không được gửi tới cuộc hội thảo theo đúng kế hoạch … bản tham luận đáng lẽ đến nơi lý ra nó phải đến là cuộc hội thảo do UNESCO tổ chức thì cuối cùng nó lại rẽ ngoặt đến nhà xuất bản”(Chương 8).

Vậy Tôi viết sách để làm gì? Tác giả nói đùa y như thật.

“Chắc chắn các bậc làm cha làm mẹ không biết lũ con cái đã giở những trò gì sau lưng họ, mặc dù có thể chính là những trò mà các bậc làm cha làm mẹ khi còn bé cũng đã từng làm sau lưng các bậc làm ông làm bà đó thôi.

        Thực lòng mà nói, khi tôi quyết định phanh phui những chuyện này ra, những người mà tôi sợ nhất không hẳn là Hải cò và con Tủn, mà chính là ba mẹ tôi, cũng như ba mẹ tụi bạn tôi.

       Trong mắt các bậc làm cha làm mẹ khả kính đó, xưa nay chúng tôi vẫn là những đứa con ngoan, nhưng bây giờ khi đọc cuốn sách này họ chợt nhận ra chúng tôi không ngoan như họ tưởng, mặc dù rốt cuộc những đứa con không ngoan đó vẫn thành đạt trong xã hội, vẫn thành ông giám đốc này, bà hiệu trưởng kia, ông nhà văn nọ…

        Và tôi không chỉ sợ ba mẹ tôi, ba mẹ thằng Hải cò, ba mẹ con Tủn và ba con Tí sún. Mà sợ tất cả các bậc làm cha làm mẹ khác trên đời. Đọc xong cuốn sách này, họ sẽ giật nẩy mình, từ đó bắt đầu nhìn con cái bằng ánh mắt khắt khe hơn và dĩ nhiên là nhiều ngờ vực hơn cứ như thể đã là con cái thì thế nào cũng sắp sửa làm điều gì dó hết sức bậy bạ” (Chương 10).

  1. NHỮNG “THỦ THUẬT” NGHỀ NGHIỆP
  2. Chuyện của nhân vật Tôi

Nhân vật Tôi (tên là Mùi) là người kể chuyện, người phát ngôn, người đối thoại với bạn đọc. Nhiều lần Tôi nói chuyện trực tiếp với bạn đọc: “Bạn đọc thân mến của tôi, khi các bạn đọc tới dòng chữ này thì thú thật tôi vẫn còn nuôi trong lòng một bí mật. Chắc các bạn cũng thấy cuốn sách mà tôi đang viết và các bạn đang đọc không hề giống bất cứ cuốn sách nào tôi đã từng viết và các bạn đã từng đọc trước đây.”…(chương 5). Những đối thoại như thế này làm cho bạn đọc lầm tưởng những gì tác giả viết và mình đang đọc là thật, không phải hư cấu, mà là chuyện thật. Đó là một “thủ thuật” viết lách. Nhà văn làm cho người đọc tin rằng mình kể chuyện thật, có vậy mới thuyết phục, rằng chính tác giả là người trong cuộc, là một nhân chứng sống.

Trong “Cho tôi một vé đi tuổi thơ”, Tôi kể hai câu chuyện lồng trong nhau: thứ nhất là chuyện bọn trẻ nghịch ngợm lúc 8 tuổi, và thứ hai là truyện Mùi viết cuốn sách này.

Nhóm bạn gồm có Hải cò, Tý sún và Tủn. Khi trưởng thành, họ là những người đã thành đạt trong xã hội. Người là giám đốc, người là bà hiệu trưởng, người là ông nhà văn…

Tôi tên là Mùi, cha mẹ đặt tên như thế vì Tôi sinh năm Mùi, ở một thị trấn buồn tẻ (chương 11). Tôi thi trượt ở tuổi 15, thất tình ở tuổi 24, thất nghiệp ở tuổi 33 và gặt hái mọi thành công ở tuổi 40. Khi tôi được 9 tuổi thì mẹ tôi sinh em bé. Khi tôi 17 tuổi thì em gái tôi lên tám. Tôi cùng Hải cò, con Tủn và con Tí sún nghĩ ra hết trò này đến trò khác để thu xếp cuộc sống theo ý mình, trong đó lắm trò ngu ngốc nhưng cũng không ít trò thông thái.

Mùi kể: Tôi thích con Tủn. Sau đó, con Tủn chuyển nhà đi nơi khác. Ba nó tìm được một công việc ngon lành ở thành phố, thế là cả nhà theo chân ba nó…(chương 10). Mười năm sau, tôi gặp lại con Tủn khi tôi lên thành phố học đại học (Thằng Hải Cò lên trước một năm. Năm sau tới lượt Tôi và con Tí sún).

Trong nhiều năm liền, bốn đứa tôi đã cặp kè với nhau vui vẻ như những ngày thơ ấu. Tôi đã tíu tít với con Tủn bao nhiêu là chuyện, trừ chuyện ngày xưa tôi thích nó. 10 năm sau nữa, tức là vào lúc hai đứa tôi đã 28 tuổi và con Tủn chuẩn bị lên xe hoa, tôi mới thú thật với nó những gì tôi nghĩ về nó 20 năm trước.

  1. Nội dung mang tính truyện.

Tôi thuật lại những trò nghịch ngợm của lũ trẻ 8 tuổi, “- những chuyện vụn vặt của tụi mình hồi nhỏ..”(đã nói ở trên). Những trò này tuy có thực một phần trong đời sống trẻ, nhưng khi được tái hiện, Tôi đã hư cấu, làm méo mó và thổi phồng lên rất nhiều (để gây sốc, câu view).

Chẳng hạn, tâm trạng buồn chán của Tôi. Tôi được miêu tả như một một người lớn trầm cảm hiện sinh. Hoặc, làm sao trẻ con 8 tuổi đã có ý thức “tập tành làm nhà cách mạng bé con, chán nản khi không thay đổi được thế giới, đã thế còn làm vạ lây cho người khác”(chương 2) và bằng trò chơi đổi tên sự vật, bọn trẻ muốn “làm cho thế giới mới mẻ, tinh khôi như được sinh ra lần nữa”(chương 3); chuyện hẹn hò lên giường, chuyện nuôi chó hoang trong nhà để rồi con Tí sún phát hiện đàn chó vơi dần và tình cờ bắt gặp ba nó đang chén chú chén anh với ba thằng Hải Cò trong quán rượu lão Ba Đực, trước mặt là một mâm thịt được tô điểm bởi lá mơ và củ riềng…

Những chuyện như thế là hư cấu, vì trẻ con 8 tuổi chưa thể có tâm trạng và suy nghĩ như vậy. Chúng chưa thể có tư tưởng muốn làm “nhà cách mạng” để “định nghĩa lại thế giới”. Đơn giản, chúng chưa biết cuộc đời này là gì thì sao muốn thay đổi! Chúng sống hồn nhiên, quấn lấy cha mẹ, và trong tí não trẻ, chúng vẫn tư duy bằng thế giới thần thoại.

Vấn đề là, Tác giả viết “Cho tôi một vé đi tuổi thơ” cho lớp độc giả nào? Cho tuổi thơ hay cho người lớn, cho các bậc cha mẹ hay cho các nhà giáo dục? Và, viết để làm gì?

Mục đích viết chi phối toàn cụ quá trình kiến tạo tác phẩm.

  1. Nhân vật Tôi chính là tác giả.

Đây là câu văn nói rõ điều ấy: “Chắc các bạn cũng thấy cuốn sách mà tôi đang viết và các bạn đang đọc không hề giống bất cứ cuốn sách nào tôi đã từng viết và các bạn đã từng đọc trước đây.”…(Chương 5). Đó chính là cuốn “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”.

Người viết cuốn sách này chính là tác giả Nguyễn Nhật Ánh, cũng là cuốn sách chúng ta đang đọc. Nguyễn Nhật Ánh đã viết nhiều tác phẩm trước cuốn sách này. Ông thổ lộ: “Những ngày ngồi cặm cụi gõ những con chữ này tôi còn nghiệm ra rằng…”

Trong truyện này, Nguyễn Nhật Ánh phơi bày nhiều “thủ thuật” viết lách khi bị Hải cò và con Tủn phản đối việc kể lại những trò hư hỏng lúc nhỏ. Hải cò trên dưới 50 tuổi, là giám đốc một công ty lớn, còn Tủn là Hiệu trưởng một ngôi trường lớn, “không thể nhận một tin nhắn kiểu như “Chiều nay chúng ta lên giường một chút chăng?” hồi tám tuổi. Học sinh và phụ huynh học sinh sẽ nghĩ sao về em, đúng không?”(chương 5), Tôi phải nhượng bộ bằng cách đổi tên nhân vật.

Việc tác giả đồng nhất với nhân vật, trở thành nhân vật, ngồi giữa trang sách, kể chuyện, bình luận, phô diễn mọi suy nghĩ cảm xúc cá nhân… là cách viết của tiểu thuyết thời Hồ Biểu Chánh (1885-1958). Nếu là cách viết hiện đại, tác giả chỉ kể chuyện trẻ con, không để nhân vật Tôi “luận” những thứ “lăng nhăng” không can dự đến sự phát triển của cốt truyện. Nhưng Nguyễn Nhật Ánh đã đưa vào tác phẩm nhiều đoạn Văn Nghị luận dài, nói những chuyện “con cà con kê, lăng nhăng”, làm mất tính văn chương của tiểu thuyết và làm nặng nề trang văn viết cho trẻ con, viết về trẻ con. Cho nên, nếu độc giả là trẻ con, chúng sẽ không thích những đoạn nghị luận về người lớn. Còn nếu độc giả là người lớn, sẽ chẳng ai quan tâm đến những lời bàn  “lạc đề” của Tôi.

Nhìn ở phía nào, tác phẩm cũng mất đi rất nhiều vẻ đẹp văn chương.

  1. d. “Văn chương thị trường”

Tất cả các nhân vật đều không được miêu tả nhân thân, không được đặt vào bối cảnh sinh sống và các mối quan hệ xã hội. Người đọc chỉ thấp thoáng biết Tôi ở một thị trấn buồn tẻ, rồi lên thành phố học. Hiện tại, Tôi trên 40 tuổi, là nhà văn. Hải trên 50 tuổi là giám đốc công ty lớn, Tủn là hiệu trưởng một trường lớn, tất cả có gia đình, nhiều năm họ quan hệ bạn bè với nhau.

Người đọc không thể tìm thấy một chi tiết hiện thực nào về xã hội Việt Nam từ khi Tôi 8 tuổi đến khi Tôi trên 40 tuổi. Chẳng lẽ trong 32 năm ấy (lấy năm xuất bản 2008 làm mốc, nghĩa là từ 1976 đến khi sách xuất bản) không có một biến cố xã hội nào được ghi nhận? Cũng tuyệt nhiên không có sự vận động số phận và sự phát triển tính cách, tư tưởng của các nhân vật được khám phá. Nhân vật không có số phận, không có tính cách. Không hoạt động trong không gian, thời gian hiện thực.

Tuy tác giả chỉ kể các sự việc khi nhóm bạn 8 tuổi, nhưng việc viết cuốn sách này lại là một chặng đường dài, từ khi 8 tuổi đến khi nhóm bạn đã thành đạt (giả định là 32 năm). Từ những yếu tố ấy, người đọc có thể khẳng định, những chuyện được kể và những nhân vật trong Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là hoàn toàn hư cấu. Tác giả bịa ra các trò nghịch và gán cho nhân vật rồi dẫn dắt người đọc bằng những suy nghĩ trực tiếp của mình.

Tác giả biết rõ điều này: “Bây giờ, tức là lúc ngồi viết lại câu chuyện này, dĩ nhiên tôi thừa biết hồi đó chính yếu tố tâm lý đã tác động đến khẩu vị của bọn tôi. Sự thay đổi của hoàn cảnh đã dẫn đến sự thay đổi của cảm xúc”, nghĩa là, hoàn cảnh có thể tác động làm thay đổi số phận nhân vật. Sở dĩ người lớn nhận thức, suy nghĩ, hành động khác trẻ con vì người lớn đã trải nghiệm nhiều hoàn cảnh sống.

Vậy mà, tác giả lại không miêu tả bối cảnh hiện thực để lý giải sự vận động, biến đổi số phận và tính cách nhân vật. Có thể đó là sự né tránh vì 32 năm từ 1976 đến 2008 (giả định vậy) hiện thực Việt Nam có những chuyển biến lớn: sau 1975 là 10 năm khó khăn, sau đó  là “đổi mới” (1986), xóa bỏ nền kinh tế bao cấp, chuyển sang kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu hóa. Xã hội Việt Nam có những biến chuyển lớn lao…Cũng có thể, tác giả không miêu tả hiện thực để tác phẩm viết về trẻ con được nhẹ nhàng?

Dù vậy, nhưng tôi vẫn thấy dấu vết những ám ảnh của hiện thực:

-“Người lớn bảo trẻ con chúng tôi tri thức mới là kho báu thực sự, nhưng nhiều người trong số họ không hề muốn chinh phục tri thức mà chỉ thích săn tìm bằng cấp. Người lớn cũng nói như vậy về tình yêu và đối xử với tình yêu cũng với cách thức thô bạo như họ đã đối xử với tri thức (chương 10).

-“Lúc tôi đang ngồi viết lại câu chuyện này, trong vòng bán kính một cây số tính từ chỗ tôi ngồi có ít nhất năm nhà hàng đặc sản, ở đó người ta quảng cáo và bày bán không thiếu một món ăn lạ lẫm nào: nai, chồn, rắn, tê tê, nhím, thằn lằn núi, đà điểu…”

  1. ĐÔI ĐIỀU PHÂN VÂN

Rõ ràng, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là một tác phẩm hư cấu, mang nhiều đặc điểm của văn chương thị trường.

Tác giả trực tiếp trở thành nhân vật, “huyên thuyên” “luận” về những vấn đề “lăng nhăng”, “những lời con cà con kê “ở trên đời” (như luận về thịt chó, về món ăn, về tình yêu, về sự bịa đặt, vợ như cái tivi hỏng volumn…) nhưng lại không có vấn đề cụ thể nào của xã hội Việt Nam. Chính Hải cò đề nghị: “…dẹp quách cái bản tham luận vớ vẩn của cậu đi”. Và nhiều lần, “Luận” xong rồi Tôi kêu lên: “Ôi, tôi lại lạc đề mất rồi.”(chương 7). Có nghĩa là, những đoạn “luận”như thế không phải là văn bản nghệ thuật, không nằm trong mạch truyện kể về những kỷ niệm của bọn trẻ lúc 8 tuổi, nó là sự lắp ghép cố ý để tác giả trực tiếp trình bày diễn ngôn, và hoàn toàn có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng đến truyện của những đứa trẻ  8 tuổi.

Một chức năng quan trọng của ngôn ngữ là sự “lên tiếng nói” (diễn ngôn) của chủ thể phát ngôn. Tác phẩm văn chương là một văn bản ngôn ngữ, tức là diễn ngôn của tác giả thông qua ngôn ngữ nghệ thuật. Dù tác giả có “đeo mặt nạ”, có ẩn danh trong nhân vật, thì tác phẩm luôn là diễn ngôn của tác giả. Nguyễn Nhật Ánh đã “tham luận đủ thứ “những lời con cà con kê; lăng nhăng” trong tác phẩm, đó là diễn ngôn của chính tác giả. Như đã nói ở trên, những diễn ngôn ấy không có một chút giá trị hiện thực nào, ngoại trừ chỉ để mua một cái nhếch mép cười của người đọc. Nếu Nguyễn Nhật Ánh bàn luận nghiêm túc về các lý thuyết giáo dục, đặt vấn đề có trách nhiệm với hiện thực “đổi mới” ở Việt Nam, và trình bày những triết thuyết có ý nghĩa tích cực cho đời sống, tất cả, thông qua hình tượng văn học, thì “diễn ngôn” của Nguyễn Nhật Ánh sẽ đem đến nhiều giá trị cho tác phẩm. Nhưng Nguyễn Nhật Ánh đã không có khả năng xây dựng hình tượng nhân vật  tư tưởng như thế.

Tác giả đặt một trục đối lập trẻ con – người lớn. Khi ca ngợi bọn trẻ “làm cách mạng”, thì cả tác phẩm là một cáo trạng những điều xấu xa của người lớn, cả cha mẹ bọn trẻ. Điển hình là, tòa án mà bọn trẻ xét xử cha mẹ chúng. Và khi phải “xử lý” những trò hư của bọn trẻ, tác giả phải đứng về phía cha mẹ, nhà trường, thì biện pháp giáo dục là cha mẹ đánh đòn và la mắng trẻ (giáo dục hiện đại tuyệt đối cấm bạo hành trẻ. Phương pháp chính là giáo dục thuyết phục, không phải là “hay chữ dữ đòn” như Tôi kể lại). Một cấu trúc như thế có ý nghĩa gì về giáo dục?

Tác phẩm, tuyệt nhiên không đặt vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống, cũng tuyệt nhiên không nhắc gì đến những quan điểm giáo dục Việt Nam hiện tại (mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội), mà chủ yếu trình bày “tham luận “ của cá nhân Tôi (tác giả), theo một cái nhìn hết sức lệch lạc.

Nguyễn Nhật Ánh coi sự chăm sóc (bữa ăn, giấc ngủ, học hành) và giáo dục nghiêm nhặt của cha mẹ ở gia đình là tù hãm, là tẻ nhạt, buồn chán; trái lại, ca ngợi những trò nghịch ngợm, làm khác đi, lật đổ, phá phách, vượt ra ngoài những chuẩn mục đạo đức, giáo dục mới là khám phá, là niềm vui, mới là sự “kỷ niệm hồn nhiên” của trẻ (lật đổ ý nghĩa sự vật truyền thống, đặt nghĩa mới, làm xáo trộn mọi sinh hoạt đời sống; phá sạch vườn cây nhà Hải cò; dựng tòa án xét tội cha mẹ,…). Sợ làm mất lòng các bậc cha mẹ, Nguyễn Nhật Ánh phải vuốt ve: “các bậc làm cha làm mẹ không nên lo lắng thái quá …”(chương 12).

Tất cả những trò nghịch của bọn trẻ 8 tuổi không có ý nghĩa tích cực nào về giáo dục, nhưng với Nguyễn Nhật Ánh, thì những đứa trẻ ấy, lớn lên vẫn trở thành giám đốc một công ty lớn, trở thành hiệu trưởng một trường lớn, thành nhà văn…

Một quan điểm giáo dục như thế hoàn toàn là phản giáo dục. Và với thái độ diễn ngôn như vậy, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh lộ ra điều gì trước mắt người đọc? (Xin đừng ngụy biện rằng đó là quan điểm của nhân vật Tôi, tức là Mùi, trong tác phẩm. Ở phần trên của bài viết này, tôi đã nói nhân vật Tôi chính là tác giả).

Nguyễn Nhật Ánh viết: “…để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn”, vậy người đọc là người lớn, sẽ học bọn trẻ 8 tuổi của Nguyễn Nhật Ánh những gì? Học “làm cách mạng” như trẻ con chăng? Học cách “định nghĩa lại thế giới” chăng? Học cách hồn nhiên mời bạn lên giường chiều nay chăng, hay học nuôi chó hoang để cho bố có mổi nhậu, và đặc biệt là, học phá phách và học cách lôi cha mẹ ra tòa mà “đấu tố”? Tất nhiên Nguyễn Nhật Ánh sẽ trả lời khác, nhưng diễn ngôn của ông và hình tượng nhân vật sẽ nói thế!                                                     

Nguyễn Nhật Ánh hư cấu nhiều sự việc trái với quy luật tâm lý lứa tuổi. Thí dụ:  cho cho trẻ 8 tuổi buồn chán như một người 50 tuổi, suốt ngày suy tư về hiện sinh, rồi từ đó muốn làm “nhà cách mạng” để “định nghĩa lại thế giới”, trong khi chúng chưa thể hiểu ý niệm cách mạng là gì; Tám tuổi sao có thể mở phiên tòa kết án bố mẹ; tám tuổi không thể có khả năng mở trang trại nuôi chó hoang…lưu ý rằng đây là những đứa nhỏ ở một thị trấn buồn tẻ, chúng mới chỉ học lớp 2, chưa từng có trải nghiệm xã hội (tòa án, trang trại,…). Dù cuối tác phẩm, tác giả có nói vớt vát rằng: “tám tuổi, vẫn là trong trẻo lắm, vẫn khát khao cuộc sống …” thì tự thân hình tượng nhân vật trong tác phẩm đã phủ nhận điều ấy.

Tác giả đặt nhan đề, và nhiều phát ngôn “quái gở” gây “phản cảm”. Thí dụ: chương 8, “Chúng tôi trở thành lũ giết người như thế nào”; chuyện “tôi đã xúi cả bọn phá tanh bành khu vườn nhà nó” (chương 8), hoặc so sánh vợ “đại khái giống như một chiếc tivi bị hỏng volume” (chương 4). Hoặc “phiên tòa vô tiền khoáng hậu: trẻ con xử người lớn!” để bọn trẻ lôi cha mẹ ra tòa, chúng đập bàn, xử tội: “ba say rượu, ủi xe vô gốc cây, phải đưa đi cấp cứu, ba hổng nhớ hả?-Nhớ sao ba còn tiếp tục say rượu? Rủi ba có mệnh hệ gì thì vợ con bỏ cho ai nuôi? Việc con “xử” cha mẹ như bọn trẻ làm là hoàn toàn trái với đạo đức truyền thống Việt Nam, chẳng khác gì những màn “đấu tố” trong Cải cách ruộng đất ngày xưa! 

Sự ỡm ờ về thể loại văn bản: “tham luận” hay “tiểu thuyết”, giúp tác giả đánh tráo vai trò nhân vật trong nghệ thuật tiểu thuyết. Lẽ ra những thông điệp, những diễn ngôn giáo dục của tác giả phải được chuyển tải bằng hình tượng nghệ thuật, tức là chính hình tượng nghệ thuật toát ra ý nghĩa tư tưởng. Trái lại, trong Cho tôi một vé đi tuổi thơ, hình tượng những đứa trẻ 8 tuổi không toát ra ý nghĩa gì, đó chỉ là những hình ảnh “tự nhiên chủ nghĩa”. Tác giả phải giảng giải, phải “luận” “con cà con kê”, phải “huyên thuyên” gán cho câu chuyện những ý nghiã chủ quan của mình. Cái cách mà Tôi chỉ ra sự sai trái trong các hành động của trẻ là gượng gạo, không thuyết phục. Bởi, trong mạch văn, Tôi kể chuyện hào hứng, cổ vũ cho những ý tưởng “cách mạng”  của trẻ, nhưng rồi sau đó, Tôi buộc phài công nhận người lớn đúng, còn trẻ con thì bị bố mẹ cho ăn đòn…

Và đặc biệt là việc không khắc họa tính cách, số phận nhân vật, không đặt nhân vật trong “tổng hòa  các mối quan hệ xã hội”, không miêu tả sự vận động trong dòng chảy cuộc đời ảnh hưởng thế nào đến quá trình phát triển tính cách nhân vật. Không thực hiện trách nhiệm của văn chương trong việc xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Vì thế Nguyễn Nhật Ánh không kiến tạo được một tác phẩm có giá trị thực, không có được những nhân vật tư tưởng tích cực, kiểu như Hamlet (của Shakespeare), Jean Valjean (của V. Hugo), Chị Dậu (Ngô Tất Tố), Chí Phèo (Nam Cao), Dế Mèn (Tô Hoài) , Chị Sứ (Anh Đức)…

Xét ở những yếu tố thi pháp ấy, Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ, dù có tham vọng góp tiếng nói giáo dục, song vẫn chỉ là một tác phẩm giải trí, đem đến vài phút vui cho người đọc. Và nếu tỉnh táo, người đọc sẽ phát hiện ra những “thủ thuật” viết lách của văn chương thị trường. Nếu ngày xưa Duyên Anh viết “Ngựa chứng trong sân trường”(1971) thì ngày nay, Nguyễn Nhật Ánh viết “trẻ con trở chứng trong sân nhà”. Không có gì mới về kiểu sáng tác lấy việc đáp ứng thị hiếu của người đọc làm mục đích.

Xin đừng lấy Giải thưởng ASEAN làm bình phong quảng cáo! (Chuyện giải thưởng văn chương ở Việt Nam có thể viết thành một cuốn sách về những điểu làm buồn lòng người đọc.)

Tháng 6/ 2026

 

______________

 

 

 

[1] Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là cuốn sách được phát hành nhiều nhất năm 2008. Đến nay sách đã được tái bản lần thứ 65. Cuốn sách này bán chạy hơn 500.000 quyển. Tác phẩm giành giải Sách hay của Hội Xuất bản Việt Nam và Giải thưởng Văn học của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009. Năm 2010, Nguyễn Nhật Ánh được đề cử và nhận được Giải thưởng Văn học Đông Nam Á với tác phẩm này.Wiki

Loading

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok