“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

(Chuyên luận)

Bùi Công Thuấn

***

Để nghiên cứu tác phẩm văn học Công giáo, tôi đề xuất khái niệm “bút pháp hiện thực cứu rỗi”. Khi viết về văn chương Song Nguyễn [[1]], tôi đã dùng khái niệm này. Dù vậy, cần làm rõ những nội hàm có tính lý luận cho cách dùng “thuật ngữ” này.

Đơn giản là vì, văn học Công giáo Việt Nam chưa có một nền lý luận văn học như một khoa học có tính phương pháp luận. Và chắc chắn là, không nhà văn Công giáo nào đã sáng tác bằng những nguyên tắc nghệ thuật này. Xét trong lịch sử lý luận văn học thế tục, cũng không có một “Chủ nghĩa Hiện thực cứu rỗi”, như những trào lưu văn học khác như: Chủ nghĩa Hiện thực, Chủ nghĩa tự nhiên (Emile Zola), Chủ nghĩa Hiện thực Phê phán (Honoré de Balzac, Fyodor Dostoevsky), Chủ nghĩa Hiện thực Huyền ảo (Gabriel García Márquez), Chủ nghĩa Hiện thực không bờ bến (Roger Garaudy), Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa (M. Gorky, Mikhail Sholokhov), Chủ nghĩa Hiện thực phải đạo (Hoàng Ngọc Hiến)…

HIỆN THỰC VÀ “CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC” TRONG VĂN HỌC

            Phần này không trình bày các lý thuyết văn học như là những mô hình thuần lý học thuật, cũng không xem các lý thuyết văn học là những quy chuẩn có tính chân lý bất biến. Những phạm trù, những vấn đề có tính lý luận văn học chỉ được dùng như một hệ quy chiếu tạm thời, định vị cho khái niệm “Hiện thực cứu rỗi”,  đặc trưng của văn học Công giáo.

Phạm trù “Phương pháp sáng tác” cũng đã được bàn cãi nhiều. Ở Việt Nam,  từ 1948 đến đổi mới (1986), báo cáo “Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam” đã khẳng định bút pháp tả thực xã hội chủ nghĩa như là một phương pháp chính thức, độc tôn của văn học Việt Nam. Không khí “đổi mới” cho phép các nhà lý luận nói đến hạn chế của phương pháp này và nhân đó phủ định phạm trù “phương pháp sáng tác”.

Xin không bàn đến những vấn đề mà đến nay thời đại đã vượt qua: “Tiếp tục đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của văn học, nghệ thuật về đề tài, nội dung, loại hình, phương pháp sáng tác, sự tìm tòi, thể nghiệm, nâng cao chất lượng toàn diện nền văn học, nghệ thuật nước nhà…”(NQ 23 ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị)

Nói cho đúng, các “lý thuyết văn học” được đặt ra là để làm thước đo  định vị một trào lưu, một tác giả, tác phẩm nào đó. Nó không có khả năng bao quát mọi vấn đề của đời sống văn học. Không một nhà văn nào nghĩ đến phương pháp sáng tác khi ngồi trước trang giấy trắng, trái lại, anh ta phá tung mọi trói buộc hệ lụy, mở rộng cửa tâm hồn cho sự sáng tạo. Các nhà phê bình, các nhà nghiên cứu văn học đi sau những sáng tạo của họ. Và nhiều khi cái áo “lý thuyết văn học” trước đó đã không còn phù hợp.

I.“Phản ánh hiện thực”

Xét đến cùng, “phản ánh hiện thực” là một thuộc tính của văn học. Văn học sử dụng ngôn ngữ làm chất liệu, mà ngôn ngữ, tự bản chất, là để định danh hiện thực.

Chữ “cái bàn” (cũng được coi là một ký hiệu) là để gọi tên một vật gồm một mặt phẳng, bằng gỗ hay nhôm, tròn hay chữ nhật, có 4 chân hay chân chéo, dùng để làm việc: bàn làm việc, bàn ăn, bàn trang điểm, bàn nước…Khi sử dụng (viết hay đọc) chữ “cái bàn”, nó gợi ra trong đầu ta hình ảnh cái bàn trong hiện thực. Đó chính là thuộc tính “phản ánh hiện thực” của ngôn ngữ. Đã có nhiều ngành khoa học nghiên cứu ngôn ngữ và các lý thuyết ngôn ngữ ra đời [[2]]. Đó là Ngôn ngữ học (Ferdinand de Saussure), Ký hiệu học (Charles Sanders Peirce), Văn bản học (textology), Truyền thông học (John Culkin), … Có cả quan niệm về quyền lực ngôn ngữ (M. Foucault) và quan niệm cho rằng ngôn ngữ sáng tạo thế giới (Martin HeideggerWilhelm von Humboldt).

“Phản ánh hiện thực” là thuộc tính nhưng cũng có thể là một nhiệm vụ khi người ta ghi lại có chủ đích những gì đã xảy ra trong đời thực, để thông tin, để nghiên cứu, để giáo dục, để hướng đến một mục đích chính trị, tư tưởng…

Các thừa sai, các nhà truyền giáo, luôn ghi lại lịch sử, địa lý, văn hóa, tình hình chính trị Việt Nam để làm tài liệu cho những người đi sau.

Thí dụ,

1.Alexandre de Rhodes viết: Hành trình và truyền giáo (Tunchini et Cochin-chinae aliorumque regnorum …) năm 1653; Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (Histoire du Royaume de Tunquin)năm 1650,

2.Philippe do Rosario Bỉnh viết: Sách sổ sang chép các việc (1822); Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1797)

3.Trong Thuật tích việc nước Nam, Linh mục Đặng Đức Tuấn ghi lại lịch sử truyền giáo, các biến cố liên quan đến đạo Công giáo, và sự kiện ông tham gia phái đoàn Phan Thanh Giản ký hòa ước năm 1862

4.Văn học kháng chiến Việt Nam (chống Pháp, chống Mỹ) tập trung phản ánh cuộc kháng chiến của nhân dân để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng (Xung kích của Nguyễn Đình Thi, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Hòn Đất của Anh Đức, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê…)

  1. Chủ nghĩa hiện thực

“Chủ nghĩa hiện thực”, với tư cách một trào lưu, một phương pháp, chỉ xuất hiện vào thế kỉ 19 ở các quốc gia PhápÝAnhNga, sau đó ảnh hưởng tới các nước khác. Từ “réalisme” xuất hiện lần đầu tiên ở Pháp vào năm 1826 trên tạp chí Mercure de France, do nhà phê bình Champfleury sử dụng (wiki).

Nhà văn hiện thực hướng về thực tiễn cuộc sống để khám phá, sáng tạo và lên tiếng nói. Tức là, nhà văn khám phá phần hiện thực mình quan tâm, tìm nhân vật và câu chuyện trong hiện thực ấy, phát hiện vấn đề, đặt vấn đề và diễn ngôn, có người còn nói đến khả năng cải tạo hiện thực của văn học.

Nam Cao quan sát làng Vũ Đại, nơi ấy có hai lực lượng, bọn cường hào ác bá (Bá Kiến) ra sức ức hiếp nhân dân, và người nông dân bị thống trị, đã vùng lên đấu tranh (tự phát) và thất bại. Viết truyện Chí Phèo, Nam Cao lên tiếng: Hãy cứu lấy người nông dân bị thống trị áp bức. Truyện phản ánh cái nhìn bế tắc của Nam Cao trước 1945: hiện thực vẫn thế. “Tre già măng mọc”. Bá Kiến chết, lại có Lý Cường, Chí Phèo chết thì một Chí Phèo con trong bụng Thị Nở sẽ lại được ném ra nơi cái lò gạch bỏ hoang. Mở đầu truyện là hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang nơi người ta nhặt được Chí Phèo (cha). Kết truyện là hình ảnh cái lò gạch bỏ hoang xa xa trong mắt nhìn của Thị Nở. Truyện được cấu trúc theo kiểu vòng tròn duy tâm phong kiến, thân phận con người là định mệnh, mãi thế, không thể khác. Thời gian quay mãi 4 mùa Xuân -Hạ – Thu – Đông; kiếp nhân sinh ngàn xưa đến ngàn sau không thoát khỏi Sinh – Lão – Bệnh – Tử.

Bút pháp hiện thực miêu tả theo nguyên tắc: nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. “Nhân vật  điển hình” là nhân vật mang bản chất giai cấp xã hội. “Hoàn cảnh điển hình” là hoàn cảnh tập trung cao độ cuộc đấu tranh giai cấp. Hiện thực vô cùng phức tạp, xô bồ, chằng chịt các mối quan hệ (quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế, quan hệ văn hóa, quan hệ huyết thống…). Cái mà ta nhìn thấy chỉ là “hiện tượng”. Nhà văn hiện thực không chỉ miêu tả hiện tượng, mà phải chỉ ra bản chất đấu tranh giai cấp của hiện tượng ấy. Thí dụ, truyện cổ tích Việt Nam, dưới các mối quan hệ gia đình là những cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt (Truyện Tấm – Cám, truyện Thạch Sanh – Lý Thông, truyện Ăn khế trả vàng…)

Khi chọn bút pháp hiện thực, nhà văn buộc phải tôn trọng những quy luật khách quan của hiện thực, không được bẻ cong ngòi bút theo ý định chủ quan. Chẳng hạn, công luận đã lên tiếng gay gắt về những tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hư cấu sai với hiện thực lịch sử khách quan Đó là các tiểu thuyết Hội Thề của Nguyễn Quang Thân, Chim ưng và chàng đan sọt của Bùi Việt Sĩ; bộ ba tác phẩm của Trần Thanh Cảnh: Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, Trần Nguyên Hãn[[3]]. Công chúng không chấp nhận việc hư cấu, miêu tả sai những gì đã được ghi chép biên niên trong những bộ sử ký chính thức của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục

Trong thực tiễn sáng tác, nhà văn, do chủ quan, từ góc nhìn văn hóa, trình độ trí thức, và trải nghiệm (vốn sống); do khác biệt về chính kiến (nhận thức chính trị, tư tưởng triết học), sự chi phối của thế giới quan, nhân sinh quan và việc sử dụng bút pháp mà có sự khác biệt trong việc khám phá và phản ánh hiện thực.

Thí dụ, cùng một hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930-1945, tác phẩm Văn học Lãng mạn (Nhất Linh, Khái Hưng), Văn học Hiện thực phê phán (Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng), Văn học Cách mạng (Tố Hữu, văn thơ các mạng trong tù) “phản ánh hiện thực” rất khác nhau.

III. Đặc trưng của một vài kiểu bút pháp hiện thực.

Để định vị “Hiện thực cứu rỗi”, cần đặt khái niệm này bên cạnh các kiểu bút pháp hiện thực khác. Xin chú ý rằng, tên của các kiểu “bút pháp hiện thực” được đặt theo mục đích sáng tác.

1.“Hiện thực phê phán” là “phê phán hiện thực”. Nhà văn miêu tả mặt trái hiện thực xã hội (thực dân, phong kiến) để từ đó, đứng về phía nhân dân, lên tiếng phê phán xã hội ấy. Cảm thức phê phán xã hội chi phối toàn cục việc kiến tạo tác phẩm.

(H. Balzac)

Thí dụ, miêu tả nạn sưu thuế trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố phê phán chính sách sưu thuế thực dân đã bần cùng hóa nhân dân. Miêu tả phong trào Âu hóa cùng với nhiều khuôn mặt tiêu biểu, trong Số Đỏ, Vũ Trọng Phụng lột trần bản chất lưu manh, vô luân của giai cấp tư sản thành thị đầu thế kỷ XX. Nhiều truyện ngắn của Nam Cao làm hiện lên cuộc sống bi thảm của người nông dân. Họ bị bọn cường hào ác bá thống trị, bóc lột và làm tha hóa, nhưng không sao thoát ra được (Chí Phèo)

(Vũ Trọng Phụng)

  1. “Chủ nghĩa tự nhiên” miêu tả hiện tượng mà không miêu tả bản chất giai cấp xã hội. Nhà văn “tự nhiên chủ nghĩa” không hướng người đọc đến một lý tưởng nào cả. Ở Việt Nam, trước “đổi mới”(1986), tác phẩm của Vũ Trọng Phụng bị đánh giá có nhiều yếu tố “tự nhiên chủ nghĩa”. Vũ Trọng Phụng lý giải hiện tượng xã hội bằng thuyết Thiên Mệnh và thuyết tính dục. Chẳng hạn, Số đỏ (1936) tập trung vào số may mắn của Xuân Tóc Đỏ. Từ một thằng “nhặt ban quần”, “thằng ma cà bông”, nhờ may mắn và lưu manh, Xuân trở thành “quan Đốc tờ” rồi thành “vĩ nhân”. Vũ Trọng Phụng không chỉ ra bản chất xã hội đã sản sinh ra những tên lưu manh như Xuân Tóc Đỏ. Trong tiểu thuyết Làm Đĩ (1937) Vũ Trọng Phụng viết về “cái dâm” như sau: “Một thiên tiểu thuyết phụng sự cái dâm? Xin các nhà đạo đức hãy khoan buộc tội! Cái dâm tự nó không những nó không xấu, mà nó còn là cái điều cao thượng, đẹp đẽ và linh thiêng vô cùng, vì nhờ nó mà loài người không tiêu diệt, nhờ nó mà có chúng ta đây. Tác giả xin để Freud, Goethe, Schiller, Yên Đổ, Nguyễn Công Trứ, cắt nghĩa cho các ngài nghe rằng sự dâm có là điều bản thỉu không đáng nói đến chăng, tưởng cũng là đủ” (Thay lời tựa).
  1. “Hiện thực Huyền ảo”.

“Hiện thực huyền ảo” (Magical Realism) tuân thủ những nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực nhưng thêm vào các yếu tố “huyền ảo“ để mở rộng hiện thực được phản ánh. Nhà văn Cuba Carpentier không sử dụng thuật ngữ “Hiện thực huyền ảo” mà gọi là “hiện thực thần kì”…

(Gabriel José García Márquez)

“Đặc điểm chủ yếu của trào lưu này là sự miêu tả và kết hợp độc đáo giữa hiện thực, lịch sử và huyền thoại, truyền thuyết, ma thuật… mang đậm màu sắc và văn hoá của người dân châu Mỹ Latinh.

Các tác giả sử dụng các yếu tố huyền ảo, hoang đường để làm hiện thực trở nên mới lạ,

tạo sức hút đối với người đọc nhưng đằng sau đó là các vấn đề hiện thực, vấn đề thời đại”[[4]].

“…Trong sáng tác, nó kết hợp việc truy tìm hiện thực và hình tượng ảo, hoặc biến hiện thực thành thần thoại, hoặc biến hiện thực thành mộng ảo, mộng cảnh, hoặc trong cuộc sống hiện thực cấy ghép sự vật mang sắc thái mộng ảo làm tăng sức biểu hiện cho tác phẩm.

… Trên phương diện kết cấu, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phá vỡ trật tự tự nhiên của chủ quan và khách quan làm cho không gian, thời gian xếp đặt loạn xạ, đan xen thần thoại và hiện thực, thực cảm và huyễn cảm, người và quỷ, phần lớn dùng thủ pháp nghệ thuật tượng trưng, ám thị, so sánh, thay thế…trong sắc thái mung lung, huyền ảo, thần bí bao hàm nội dung đa dạng”[[5]].

 “Trăm năm cô đơn” của G.Marquez xuất bản năm 1967 được coi là tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo,

  1. Hiện thực không bờ bến

(Roger Garaudy)

Roger Garaudy viết “Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” năm 1963). Trong công trình này, ông cho rằng chủ nghĩa hiện thực không nên bị giới hạn bởi cách hiểu truyền thống là chỉ phản ánh thế giới một cách máy móc, mà cần mở rộng để bao gồm cả những hình thức sáng tạo, mang tính huyền thoại và dự báo tương lai (AI-Hay)

Garaudy kết luận rằng “Chủ nghĩa hiện thực của thời đại chúng ta là chủ nghĩa hiện thực sáng tạo huyền thoại, chủ nghĩa hiện thực có tính chất anh hùng ca, chủ nghĩa hiện thực mang tầm vóc Prométhée“[[6]].

5.Chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa

(M. Gorky)

Gorki dùng thuật ngữ “Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa” năm 1934. Điều lệ Hội nhà văn Liên Xô tại đại hội I xác định Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là phương pháp sáng tác chủ đạo của văn học Xô-viết.

Nội dung của phương pháp này được xác định như là yêu cầu miêu tả cuộc sống một cách chân thật, cụ thể lịch sử, trong sự phát triển cách mạng của nó.

Ở Việt Nam, Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa trở thành phương pháp sáng tác độc tôn từ 1948 đến “đổi mới” (1986). Nền tảng của  Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa  là chủ nghĩa Mác – Lênin với nguyên lý “tính Đảng”. Văn học nghệ thuật là một bộ phận trong sự nghiệp cách mạng, phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị của Đảng. “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[[7]].

  1. “Chủ nghĩa thần thực” trong văn học Trung quốc đương đại[[8]

Chủ nghĩa thần thực, (có thể giải thích một cách đơn giản, tức là:) trong sáng tác vứt bỏ những quan hệ logic bề mặt mang tính chân thực đời thường vốn có, đào sâu vào một dạng chân thực “không tồn tại”, một thực tại không nhìn thấy, một hiện thực bị che lấp. Chủ nghĩa thần thực vượt xa so với bước đi của chủ nghĩa hiện thực. Quan hệ giữa nó với hiện thực không phải là nhân quả trực tiếp của đời sống, mà phần lớn dựa vào linh hồn, tinh thần của con người (sự liên hệ của con người với mối quan hệ giữa tinh thần hiện thực và nội bộ sự vật) và những suy nghĩ chủ quan đặc thù của người sáng tác trên cơ sở hiện thực. Khách quan mà nói, không phải chủ nghĩa thần thực đã đến được cầu nối giữa cái chân thực và hiện thực. Những tưởng tượng, ngụ ngôn, thần thoại, truyền thuyết, cảnh mộng, huyễn tưởng, biến ảo, cấy ghép… đều là thủ pháp và con đường mà chủ nghĩa thần thực cần thông qua để hướng đến cái chân thực và hiện thực.

Chủ nghĩa thần thực tuyệt đối không bài trừ chủ nghĩa hiện thực, mà nó nỗ lực sáng tạo ra hiện thực và vượt qua chủ nghĩa hiện thực

…Sáng tạo ra sự chân thực, là đặc sắc mới mẻ của chủ nghĩa thần thực”.

  1. Chủ nghĩa Hiện thực phải đạo”

(GS Hoàng Ngọc Hiến)

GS Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết : “Về một đặc điểm của văn học nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua”, đăng trên Văn nghệ số 23, ra ngày 9/6/1979, đã viết:

Nhìn chung, trong sáng tác hiện nay, sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại. Và chúng tôi tán thành ý kiến của Nguyễn Minh Châu cho rằng sự lấn át này đương là một trở ngại “trên con đường đi đến chủ nghĩa hiện thực”, đặc biệt trong thể loại tiểu thuyết. Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống cho phải đạo, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Chủ nghĩa hiện thực chân chính đòi hỏi người nghệ sĩ phải biết phân biệt đâu là những hình thức “phải đạo”, và đâu là nội dung chân lý phù hợp với quy luật phát triển cách mạng của bản thân cuộc sống.”[[9]].

Quan điểm này của GS Hoàng Ngọc Hiến bị phê phán gay gắt.

***

Như vậy, các nhà lý luận đã đặt tên cho một kiểu sáng tác nào đó căn cứ vào mục đích sáng tác. Chẳng hạn: “Hiện thực phê phán” là phê phán hiện thực. “Hiện thực không bờ bến” là mở rộng biên giới của hiện thực, không chỉ đóng khung hiện thực theo quan niệm cổ điển. “Hiện thực phải đạo” là “miêu tả cuộc sống cho phải đạo”. “…do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”.

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO

  1. “Hiện thực” trong nhãn quan Kitô giáo

            Chủ nghĩa hiện thực chỉ quan tâm đến hiện thực xã hội mà cốt lõi là quan hệ đấu tranh giai cấp. Xã hội thế tục vận ành bằng những lý tưởng xã hội, những ý thức chính trị, những phong tục tập quán, môi trường văn hóa và các chết độ chính trị. Trái lại, Hiện thức cứu rỗi, mặc dù vẫn bám chặt hiện thực xã hội, nhưng vươn lên một tầng hiện thực khác là hiện thực tâm linh. Đó là những cảm quan, ý thức và trải nghiệm về sự sống, sự chết, sự phục sinh, Thiên đàng, Hỏa ngục, các tầng trời, tính hiệp thông giữa cõi người, cõi trời và cõi luyện tội, và đặc biệt là vũ trụ quan Kitô giáo: Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa quan phòng sự vận động của lịch sử, quan phòng mọi  biến cố trong số phận mỗi con người. Tất cả diễn ra, ngoài khả năng nhận biết của con người, trong lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa. Sự khác biệt căn cốt của Hiện thực cứu rỗi với chủ nghĩa hiện thực thế tục tạo nên cái riêng của văn học Công giáo.

Thí dụ. Người nghèo trong xã hội luôn là trung tâm sự chú ý của văn học. Những “dân đen, con đỏ” trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi khổ vì bị giặc Minh thống trị. Nguyễn Du từng khóc thương 10 kiểu người chết oan (Văn tế thập loại cúng sinh). Những “dân ấp, dân lân” trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;/ Đâu biết xác phàm vội bỏ”. Ngô Tất Tố miêu tả thảm cảnh nhà chị Dậu trong mùa sưu thuế. Chị Dậu phải bán đứa con gái lớn là cái Tí và một ổ chó để có tiền chuộc Anh Dậu đang ốm liệt vẫn bị bắt trói ngoài sân đình. Những đứa con nhỏ của chị nheo nhóc…

Người nghèo cũng là một nhân vật trung tâm của Kinh thánh. Nhưng người nghèo trong Kinh Thánh được nhìn ở Ơn Cứu độ. Ngưới nghèo xuất hiện trong mối phúc đầu tiên của 8 Mối Phúc: “Phúc thay.ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”(Mt 5, 3). Người nghèo  cũng xuất hiện trong dụ ngôn Ngày Cánh chung (Mt 25,31-46):

“Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa.
Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm”.
Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến thăm đâu?”
Để đáp lại, Đức Vua sẽ bảo họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy”(Mt 25, 34-40).

Rõ ràng Kinh Thánh miêu tả người nghèo, nhưng không theo nhãn quan đấu tranh giai cấp mà lý giải bằng ơn Cứu độ, bằng Lòng Xót Thương của Chúa: nghèo là mối phúc. Người nghèo được cứu độ vì họ biết xót thương.

Thí dụ 2: hiện thực tâm linh chói lọi: Chúa Giêsu biến hình trên núi Taborê.

“Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời,và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng.
Và kìa các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.
Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, hay quá! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Mô-sê một cái, và ông Ê-li-a một cái”.
Ông còn đang nói, thì kìa có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và kìa có tiếng từ đám mây phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”
Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất.
Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: “Chỗi dậy đi, đừng sợ!”
Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi”(Mt 17, 1-8)

Thưa các bạn, đoạn trình thuật này của thánh sử Matthêu là hiện thực hay là “huyền ảo”? Thưa: -là thực, nhưng hiện thực mở rộng sang hiện thực tâm linh, hiện thực cứu rỗi.

  1. Bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”

Nói đến “bút pháp” là nói đến cách viết, cách trình bày câu chuyện thành một văn bản  (khác với truyện dân gian truyền khẩu). Mục đích viết chi phối cách viết. Nếu viết để “phê phán”, nhà văn sẽ chọn những cái tiêu cực, chọn mặt tối của hiện thực, phơi bày ra ánh sáng, và sự phơi bày ấy (miêu tả trần trụi, huỵch toẹt) tự nó có ý nghĩa phê phán. Người Việt có thói quen tốt đẹp thì phô ra, xấu xa thì che đậy lại. Nếu viết để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhà văn sẽ chọn những nhân vật an hùng, sẽ dùn bút pháp “lý tưởng hóa” văn giọng văn anh hùng ca.

BÚT PHÁP HIỆN THỰC CỨU RỖI TRONG KINH THÁNH.

  1. Chuyện người phụ nữ ngoại tình bị ném đá (Ga 8, 1-11)

“Còn Đức Giê-su thì đến núi Ô-liu.Vừa tảng sáng, Người trở lại Đền Thờ. Toàn dân đến với Người. Người ngồi xuống giảng dạy họ.

Lúc đó, các kinh sư và người Pha-ri-sêu dẫn đến trước mặt Đức Giê-su một phụ nữ bị bắt gặp đang ngoại tình. Họ để chị ta đứng ở giữa, rồi nói với Người: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt quả tang đang ngoại tình.Trong sách Luật, ông Mô-sê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”
Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người. Nhưng Đức Giê-su cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất.

Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người ngẩng lên và bảo họ: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi.” Rồi Người lại cúi xuống viết trên đất.
Nghe vậy, họ bỏ đi hết, kẻ trước người sau, bắt đầu từ những người lớn tuổi.

Chỉ còn lại một mình Đức Giê-su, và người phụ nữ thì đứng ở giữa.Người ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?” Người đàn bà đáp: “Thưa ông, không có ai cả.” Đức Giê-su nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

Nhận xét:

Đây là một truyện được viết bằng bút pháp hiện thực (thực ra, đây là một trình thuật, một “ký sự”). Bối cảnh, thời gian, nhân vật, sự việc, diễn biến sự việc diễn ra trong hiện thực. Tác giả trình thuật có xen lời bình, nhưng rất ít. Ý nghĩa của truyện toát ra từ vấn đề, từ hành động, ngôn ngữ của nhân vật; từ cách thắt nút, mở nút đầy kịch tính, giàu trí tuệ và chan chứa lòng nhân ái của truyện.

Người phụ nữ lẽ ra phải bị ném đá chết đã được cứu sống và được tha tôi. Đức Giêsu cũng không lên án chị. Truyện lay động tâm hồn chúng ta mỗi khi có ý định “ném đá” người khác. Truyện cũng nhấn mạnh đến nỗi lực tự cứu rỗi của mỗi người. Đức Giêsu khuyên chị: “Tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!”

Như vậy, truyện vừa giải quyết vấn đề giữ luật Mose trong hiện thực, vừa chỉ ra con đường cứu rỗi tâm linh cho nhân loại.

  1. Chuyện ông nhà giàu và anh Lazarô nghèo khó (Lc 16, 19-31)

“Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Lazarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.

Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.

“Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh Lazarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh Lazarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm !”

Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn Lazarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, Lazarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được”.

“Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Lazarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này !”

Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.
Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”.

Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”.

Nhận xét:

Đây là một dụ ngôn, nghĩa là một truyện hư cấu. Bối cảnh là không gian nối liền Âm phủ (nơi giam giữ ông nhà giàu), trần gian (nơi người thân còn sống) và Thiên đàng, nơi Lazarô đang ngồi trong lòng tổ phụ Abraham.

Nội dung truyện là đối thoại giữa ông nhà giàu và Abraham. Ông nhà giàu xin Abraham cứu vớt khỏi hỏa ngục.

Đối thoại ấy mở ra không gian hiện thực sống động (quan niệm: ngôn ngữ tạo ra thế giới). Đó là cảnh ông nhà giàu bị thiêu đốt trong hỏa ngục. Và khi đã sao vào hỏa ngục, ông không thể được cứu. Những xoay trở tính toán của ông để cứu những người anh em còn đang sống, cũng đều không thể.

Thủ pháp tương phản tạo nên ấn tượng mạnh mẽ: tương phản giữa hoàn cảnh sống nghèo khổ của Lazarô khác so với ông nhà giàu; tương phản giữa lửa thiêu trong hỏa ngục và hạnh phúc thiên đàng, tương phản giữa Lòng Chúa Thương Xót (với Lazarô) và hình phạt cho kẻ không biết xót thương (người nhà giàu).

Cựu Ước đã nói về tổ phụ Abraham, các Ngôn sứ cũng đã xuất hiện trong thời Cựu Ước. Hình ảnh những người ăn mày, những phú ông, thì thời nào cũng có, đó là những yếu tố hiện thực. Nhưng để kể lại câu chuyện Lazarô và người nhà giàu, Đức Giêsu đã sáng tạo một cuộc đối thoại trong không gian tâm linh, không gian của các linh hồn, của đức tin, của Lời Ngôn sứ, Lời Đức Giêsu. Nơi ấy, chỉ những ai có đức tin vào ơn Cứu Rỗi mới thấm được hết ý nghĩa câu chuyện.

Thí dụ 3: Đức Giêsu và tổng trấn Philatô (Ga 18, 33-38)

“Ông Philatô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người: “Ông có phải là vua dân Do-thái không?”
            Đức Giê-su đáp: “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi?”
Ông Philatô trả lời: “Tôi là người Do-thái sao? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì?”
Đức Giê-su trả lời: “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng nay Nước tôi không thuộc chốn này.”
Ông Philatô liền hỏi: “Vậy ông là vua sao?”

Đức Giê-su đáp: “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.”
Ông Philatô nói với Người : “Sự thật là gì?”

Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

Nhận xét:

Thánh Gioan thuật lại cuộc gặp gỡ, đối chất giữa Philatô và Chúa Giêsu. Một hoàn cảnh hết sức căng thẳng, quyết liệt và gấp rút. Trong hoàn cảnh ấy, không ai có thể bình tâm được. Trình thuật hoàn toàn là hiện thực. Có bối cảnh thời gian, không gian, sự việc, mở đầu và kết thúc.

Trình thuật làm nổi bật con người lịch sử và thần tính (Thiên Chúa) của Đức Giêsu: Người bị cáo là “Vua dân Do Thái”, là tầm vóc con người lịch sử, tầm vóc lớn lao giữa dân Do Thái và đế quốc La Mã.. Thần tính Thiên Chúa của Đức Giêsu thể hiện ở lời khẳng định:  “Nước tôi không thuộc thế gian này”; “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật”. Nhưng Philatô đã không hiểu điều này, nên mới hỏi lại Chúa: “Sự thật là gì?” Nhưng Chúa không trả lời Philatô. Kết thúc văn bản là kết luận của Philatô: Ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

Cả đoạn văn bản Tin Mừng (Ga 18,33-38) là để khẳng định Đức Giêsu là ai, từ đó củng cố đức tin cho người theo Chúa. Để thực hiện sự khẳng định này, Gioan chọn góc nhìn về Đức Giêsu từ Philatô (góc nhìn của kẻ đối lập), không phải góc nhìn của môn đệ (Mc 8, 27-35).

Rất tiếc, Philatô chỉ nhìn Đức Giêsu  như một con người của lịch sử. Trái lại, các môn đệ khẳng định Đức Giêsu là Đấng Kitô:

“Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ đi về phía những làng nhỏ miền Cêsarê thuộc quyền Philipphê. Dọc đường, Người hỏi các ông rằng: “Người ta bảo Thầy là ai?” Các ông đáp lại rằng: “Thưa là Gioan tẩy giả. Một số bảo là Êlia, một số khác lại cho là một trong các vị tiên tri”. Bấy giờ Người hỏi: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?” Phêrô lên tiếng đáp: “Thầy là Ðấng Kitô”. Người liền nghiêm cấm các ông không được nói về Người với ai cả”.

Đoạn trình thuật miêu tả Đức Giêsu tại dinh quan tổng trấn Philatô, nơi Ngài có thể bị kết tội hoặc được tha. Song Đức Giêsu không hề bận tâm đến ngoại cảnh (áp lực của dân Do Thái), không băn khoăn đến hoàn cảnh oan ức của mình và không hề lo lắng gì về sự sống chết để kháng án. Đức Giêsu hoàn toàn làm chủ hoàn cảnh và vượt lên trên quyền lực của vua chúa thế gian. Philatô đã phải khẳng định: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy”.

Điều ấy làm rõ hơn ý nghĩa cái chết của Đức Giêsu: “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật”. “Sự thật” ấy là: Đức Giêsu từng nói, “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống”(Ga 14,6). Nói cụ thể, chính Đức Giêsu mới là “sự thật cứu rỗi”. Đức Giêsu nói với Mácta: “Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết. Chị có tin thế không?”(Ga 11, 26).

Tất cả những miêu tả, trình thuật như thế là miêu tả “Hiện thực cứu rỗi”. Không hề có bóng dáng “Hiện thực phê phán” hay “Hiện thực huyền ảo”, hoặc “Hiện thực không bờ bến” hay bất cứ kiểu bút pháp hiện thực nào hướng về xã hội mà không hướng về “sự thật”.

BÚT PHÁP “HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO

Xin lưu ý rằng, không có một “trào lưu văn học” sáng tác theo bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” trong văn học Công giáo. Khi nghiên cứu Hiện thực cứu rỗi trong văn học Công giáo, tôi chỉ muốn xác định một đặc trưng của văn học Công giáo Việt Nam so với các dòng văn học thế tục khác, và coi đó là một đóng góp mới mẻ về thi pháp vào văn học dân tộc.

Văn học Việt Nam, về thi pháp, đã có nhiều nền văn học khác nhau: văn học dân gian, văn thơ trung đại chịu ảnh hưởng thi pháp Trung Quốc, thơ Thiền (từ thời Lý – Trần) và thơ văn chịu ảnh hưởng Phật giáo. Văn học chịu ảnh hưởng phương Tây từ Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) đến nay, và văn thơ Công giáo từ Girolamo Majorica (1591–1656, tác phẩm văn xuôi chữ Nôm), Alexandre de Rhodes (1593–1660, tác phẩm viết bằng chữ Quốc ngữ)…

Sự khác biệt căn cốt của văn học Công giáo, cũng là đóng góp mới mẻ của văn học Công giáo cho văn học dân tộc là tư tưởng thần học mà cốt lõi là Mỹ học Kitô giáo, cùng với truyền thống văn hóa phương Tây, các thể loại phương Tây, góp phần hội nhập văn hóa, thoát ly dần ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc trong văn học.

Tất nhiên, khi đã nói đến một nền văn học, thì không thể không nói đến thi pháp của nền văn học ấy, trong đó có tư tưởng Mỹ học, chất liệu sáng tác, đối tượng sáng tác, mục đích sáng tác kiểu ngôn ngữ, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, và phương pháp sáng tác…

Chẳng hạn, thi pháp ca dao có một số đặc điểm. Ca dao thường sử dụng thể thơ lục bát, điệu nói hướng ngoại. Ngôn ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân, là tiếng gọi cộng đồng. Chất liệu là sự vật, sự việc ngay trong môi trường sinh hoạt (“Hôm qua tát nước đầu mình/ Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen…”). Về bút pháp, Ca dao được viết bằng ba thể: thể phú (miêu tả, bày tỏ, kể chuyện), thể tỷ (so sánh, ví von), và thể hứng (mượn sự vật gợi hứng rồi dẫn đến vấn đề. Thí dụ: “Trèo lên cây bưởi hái hoa/ Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân…”), dùng nhiều biện pháp tu từ. Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật là môi trường lao động, là không gian cộng đồng. Ca dao diễn tả những tình cảm cộng đồng thôn quê (“Trâu ơi ta bảo trâu này/ Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta…”). Đối tượng của ca dao là người bình dân. Ca dao được sáng tác ngay trong môi trường lao động để cổ vũ công việc lao động. Ngày nay, trong những dịp họp mặt, người ta vẫn sáng tác ca dao góp vui… “Thơ phong trào” Việt Nam đương đại, hầu hết chỉ ở dạng ca dao, rất ít có sáng tạo mới mẻ của cá nhân.

Xin đọc một vài tác giả Công giáo đương đại.

1.Thơ Công giáo của Francis Lê Đình Bảng

Thơ Lê Đình Bảng được xem là tiêu biểu nhất của thơ ca Công giáo từ sau Hàn Mạc Tử. Con đường thơ Lê Đình Bảng phát triển theo một hướng khác và đạt đến những đỉnh thi sơn mới về thơ ca. Nếu thơ Hàn Mạc Tử là thơ Siêu thực, thì thơ Lê Đình Bảng đậm đặc phẩm chất của bút pháp Hiện thực cứu rỗi. Đó là một lối tơ rất sáng Mỹ học Ki tô giáo, giàu có văn hóa Cxo6ng giáo Việt Nam, kết hợp nhuần nhiễn cảm thức Đông-Tây và đặc biệt là ngôn ngữ nhà đạo mới mẻ hòa quyện lấy ngôn ngữ ca dao truyền thống.

Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện

Hồn reo vui trong từng chữ từng lởi

Trong đất mầu đương vỡ vạc sinh sôi

Trong cây lá vươn sức dài vai rộng

         (Tôi làm thơ nghĩa là tôi cầu nguyện)

Và khi ấy hỡi bồ câu thiên sứ

Gõ nhịp mà ca, trẩy hội cầu mưa

Hạt xuống đồng, xanh mướt búp măng tơ

Hạt lên dốc, đẫy đà cây muôn trượng

                        (Xin trời mưa sương xuống)

     Cây Thánh giá nở hoa đào rực rỡ

                Hãy thả bồ câu bay rợp đền vàng

                Hương sáp, mật ong, quần điều áo lục

                Bên đây bờ Tân ước…

                     (Người hát rong trên đồng cỏ)

2.Truyện ngắn của Lm Micae Nguyễn Trung Tây

Linh mục Nguyễn Trung Tây sinh ra tại Sài Gòn. Năm 1984 định cư ở San Jose, Thung Lũng Hoa Vàng, Hoa Kỳ. Ngài thụ phong Linh mục dòng Ngôi Lời tại Phố Gió Chicago năm 2002. Đây là trải nghiệm của tác giả: “20 năm hít thở không khí Việt Nam! 2 năm làm người vô tổ quốc lang thang trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi Luật Tân! 21 năm lang thang ở Mỹ! 10 năm làm việc tại Úc Châu! 5 năm quay về lại Philippines cho một giấc mơ.”[[10]]

Tác giả có trang web “Quán nước đầu làng. Nơi đây “Chủ quán Nnguyễn Trung Tây

 xin chỉ kể những câu chuyện rất tầm thường và rất Việt Nam: “Chuyện Tu Sĩ Chuyện Em,” “Chuyện Ông Tư Dì Tư,” “Chuyện Vợ Chuyện Chồng,” “Chuyện Bác Chuyện Em,” “Chuyện Mẹ Chuyện Con,” “Chuyện Peter, Michelle, Andy.”

Tác phẩm văn học đã in:

Quán rượu nửa đêm (tuyển tập truyện ngắn). 2004

Ốc mượn hồn (tuyển tập truyện ngắn). 2007

Ông giáo bán mắm (tuyển tập truyện ngắn). 2021

Chữ nghĩa tu sĩ bình bát (bút ký song ngữ Việt-Anh). 2021

Writings of  A Mendicant Monk (bút ký tiếng Anh). 2022

Quán nước đầu làng – Niềm tin Việt Nam I (2021), II (2023), III

Và nhiều tác phẩm suy tư thần học…

Truyện của linh mục Nguyễn Trung Tây ghi lại những trải nghiệm của bản thân (như tự truyện) thời gian lưu lạc ở các trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi Luật Tân, 21 năm lang thang ở Mỹ! Tình trạng làm công dân toàn cầu, không biết mình thuộc về “tổ quốc” nào? Đó cũng là những vấn đề của người Việt hải ngoại trong quá trình hội nhập với xứ sở định cư. Truyện đầy ắp chất liệu hiện thực của một giai đoạn lịch sử đầy bão táp đối với thân phận con người, nhưng được nhìn qua lăng kính Hiện thực cứu rỗi.

Truyện “Tôi tới từ thiên đàng” là nỗi trăn trở khôn nguôi về quê hương, về ngôi nhà của mình. Không sao tìm được câu trả lời cho câu hỏi:  -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”. Bế tắc trong đời thực (người sống tha hương, không có tổ quốc), tác giả hướng lên trời tìm câu trả lời.

Xin trích:

            -“Ông bạn từ đâu tới vậy?”

Một câu hỏi đơn giản như thế thông thường được trả lời với một câu bắt đầu với chủ từ “Tôi”, theo sau là động từ “là” (trong trường hợp này động từ “là” nằm ở thì hiện tại, ngôi thứ nhất, số ít, đọc là “từ”), cuối câu là túc từ (tên của một quốc gia nào đó). Dựa vào những nét Đông phương trên khuôn mặt, thiên hạ thông thường vẫn chờ đợi tôi sẽ điền vào chỗ trống của túc từ với một danh từ, hoặc “Thái Lan” hoặc “Cambuchia” hoặc “Trung Hoa”. Nhưng nếu tôi thành thật và ngây thơ nói,- “Hiệp Chủng Quốc…”, thiên hạ đã rất nhiều lần phản ứng ngay với giọng điệu mỉa mai,
-“Ông thần? Ông đâu phải là Mỹ!…”

“Câu chuyện “Bạn từ đâu tới?” không chấm dứt ở đây… Bởi đã có những lần quay về Việt Nam công tác, tôi đã từng được/bị (người Việt) nhìn hoặc đối xử hoặc coi như một người ngoại quốc ngay trên vùng đất chôn nhau cắt rốn…”

            “…Vâng! 20 năm hít thở không khí Việt Nam! 2 năm làm người vô tổ quốc lang thang trại cấm Mã Lai và trại tỵ nạn Phi! 21 năm lang thang ở Mỹ! 10 năm làm việc tại Úc Châu! Và bây giờ bạn hỏi tôi, “Anh từ đâu tới?”. Và bạn chờ đợi một câu trả lời đơn giản. Nghiêm chỉnh đi ông bạn! Đừng nói chuyện bỡn!…”

            “Tôi chỉ ngón tay lên trời, bầu trời xanh xanh màu ngọc bích, khẳng đinh, “Tôi từ thiên đàng mà tới”.[[11]]

Câu trả lời làm tôi nhớ đến Đức Giêsu. Khi đối mặt với những thách thức trần gian, câu trả lời của Chúa vừa hóa giải vấn đề, vừa hướng vào tâm linh và đem đến ơn cứu độ cho những ai có lòng tin. Chẳng hạn:

“Ông Lê-vi làm tiệc lớn đãi Người tại nhà ông. Có đông đảo người thu thuế và những người khác cùng ăn với các ngài. Những người Pha-ri-sêu và những kinh sư thuộc nhóm của họ mới lẩm bẩm trách các môn đệ Đức Giê-su rằng: “Sao các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi ?” Đức Giê-su đáp lại họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn“(Lc 5, 29-32)

  1. Truyện của Linh mục Đaminh Nguyễn Đức Thông[[12]]

Lm. Đa Minh Nguyễn Đức Thông CSsR, sinh năm 1957. Ngài chịu chức Linh mục năm 1993; là Tiến sĩ ngành Giáo dục Tôn giáo tại Đại học De la Salle, Manile. Hiện là Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Giảng dạy tại: Đại Chủng viện Saigon, Học viện Công giáo.

Tác phẩm văn học chính:

Nắng chiều tàn tạ. 7 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2003.

Rừng cao su thay lá. 5 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2005.

Hoa tươi trong vùng cát. 3 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2006.

Sỏi đá nở hoa. 3 truyện ngắn. Nxb Đồng Nai, 2011.

Trăng rằm trên phố núi. Tiểu thuyết. Nxb Hồng Đức, 2018.

***

Xin đọc ruyện Cây thánh giá giả (tóm tắt)

Cụ Ngữ là người sáng lập Đan viện Thiên Ân. Cụ ở Tokyo muốn về Việt Nam để nghỉ dưỡng. Từ sân bay về Đan viện, cụ chứng kiến bao thứ giả: tai nạn giả, bắt tội phạm giả. Người dẫn đường nói: ở Việt Nam còn có mũi gỉa, cằm giả, ngực giả, lúm đồng tiền giả, mụt ruồi giả nữa.

Về tới Đan viện, cụ Ngữ được các cha giới thiệu cảnh quan, chỗ nào cũng giả: cột bê tông giả, hoa giả. Cha Long nói: “Thiên Chúa bây giờ chỉ là một thứ xa xỉ, nếu không muốn nói là một công cụ trong tay người ta”.

Thầy Tuyên chở cụ Ngữ đi kiểm tra nhà mồ côi. Dọc đường Cụ Ngữ còn biết thêm bằng lái xe giả, bằng Tiến sĩ giả…tiền giả rải đường (tiền âm phủ), cả những hiện tượng phản văn hóa, tiểu ngoài đường, Sư giả – và nhiều cảnh nhiễu nhương (trại heo bên cạnh tu viện).

Tại trại mồ côi, có cả Bề trên giả, các em mồi côi giả (cha mẹ nghèo quá gửi vào), món ăn giả (món ăn để chưng cho đoàn kiểm tra thấy, trẻ không được ăn). Lại một đám cưới giả xin làm lễ, Cụ Ngữ từ chối thẳng.

Dự một lễ truyền chức long trọng, cụ phát hiện ra linh mục giả. Bị choáng, cụ ôm lấy cây thánh giá mà cụ đã dựng ngày xưa. Cụ nghĩ chỉ có cây thánh giá này là thật. Thầy Tuyên (người dẫn đường) bảo, cây thánh giá này cũng là giả, cây thánh giá thật bị nhổ đem bán rồi. Cụ Ngữ ngã xuống.

***

Truyện đầy ắp chất liệu hiện thực đời sống hôm nay. Khi mở cửa với thế giới, Việt Nam bị xâm lăng văn hóa. Bao nhiêu giá trị đạo đức bị tha hóa. Chủ nghĩa thế tục, thói thực dụng, lối sống cá nhân vị kỷ cùng với sự lừa lọc, giả trá, lưu manh lên ngôi. Đến cả “sự thánh” cũng là giả! Hiện thực ấy là quá sức chịu đựng của một lương tâm thiện lành. Cụ Ngữ ngã xuống. Đó là lời cảnh báo khẩn thiết đối với những ai còn muốn giữ lấy đức tin.

Đức Giêsu đã cảnh báo mạnh mẽ về thời đại này:

“Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em: “Này, Đức Ki-tô ở đây” hoặc “ở đó”, anh em đừng có

tin. Thật vậy, sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể.
Thầy báo trước cho anh em đấy!” (Mt 24,23-25)

***

Truyện của Linh mục Nguyễn Đức Thông là một diện mạo khác của “bút pháp Hiện thực cứu rỗi”.

4.Truyện của Linh mục Giuse Cao Gia An SJ [[13]]

Lm Giuse Cao Gia An sinh năm 1981 tại Hiệp Đức, Bình Thuận. Thụ phong linh mục năm 2014, thuộc dòng Tên. Pontificia Università Gregoriana (Đại học Giáo hoàng Gregorian). Tiến sĩ về Chú Giải Kinh Thánh. Hiện đang giảng dạy môn Ngôn sứ tại Học viện Dòng Tên Việt Nam.

Đã xuất bản:

Hãy học cùng Giêsu (Nxb Antôn và Đuốc Sáng, 2014).

Bạn đường Đức Giêsu (Nxb Antôn và Đuốc Sáng, 2014). Đồng tác giả với tác giả Nguyễn Mai Kha.

Hoa phượng về trời (Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2014).

Hợp Tuyển Thần học, số 50 (Nxb Tôn giáo, 2016). Đồng tác giả với tác giả Phạm Tuấn Nghĩa và nhiều tác giả khác.

Tâm sự một loài hoa trên tường đá (Nxb Tôn giáo, 2018).

Bên ngoài cổng nhà thờ (Nxb Hồng Đức, 2018).

Lạy Chúa con đây! (Nxb Đồng Nai, 2021).

Mùa cứu rỗi (Nxb Đồng Nai, 2021).

Tình thơ trên phận người (Nxb Đồng Nai, 2021).

Tay trắng Tay Đen – Nhật ký Châu Phi (Nxb Đồng Nai, 2024).

Lạy Chúa! Ngài đã quyến rũ con (Nxb Đồng Nai, 2024)…

***

Đọc tập truyện “Bên ngoài cổng nhà thờ”

Bên ngoài cổng nhà thờcòn rất nhiều người nghèo thiếu cả cơm ăn áo mặc. Nghèo hơn nữa là những người nghèo chưa bao giờ được nuôi dưỡng bởi những của ăn tinh thần và đời sống tâm linh. Họ vô phương kháng cự trước vô số cám dỗ và nguy cơ của đời sống hiện đại”.

Tác giả dẫn người đọc đến thăm những cảnh đời mà lối sống đạo truyền thống của người Công giáo đã đẩy họ ra ngoài nhà thờ. Đó là những trường hợp gọi là hôn nhân “rối”, những cô gái “chửa hoang”(Bên ngoài nhà thờ, Cha xứ dở); những “cánh hoa rơi” giữa phố thị (Tầm xuân giữa phố); chia sẻ những bi thảm của những số phận bị công nghiệp hóa tước đi môi trường sống (Miền cỏ xanh dưới lòng sông), hoặc làm tha hóa những điều đạo đức tốt đẹp, làm tan vỡ những cuộc tình hồn hậu,  làm ly tán những gia đình vốn nề nếp hạnh phúc (Tiềng chuông nhà thờ; Hương ổi ngày xưa; Xóm không đêm; Một cuộc đời để sống)…

Bên ngoài cổng nhà thờ là cuộc sống phức tạp. Người Linh mục trẻ cảm thấy bất lực. ”Càng va chạm nhiều với thực tế, anh càng gặp nhiều cảnh đời đau lòng. Những cảnh đời đau lòng đặt ra cho anh nhiều câu hỏi vô phương trả lời, nếu chỉ dựa trên những gì anh đã được học, dựa trên những phương tiện anh đã được trang bị, hay dựa trên những luật lệ mà trước đây anh đã từng trân giữ và xác tín”.

***

Tập truyện đầy ắp hiện thực xã hội về những vấn đề nhân sinh hôm nay, những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo. Đối diện với hiện thực ấy, người môn đệ của Chúa phải hành động. Nhà văn kể chuyện là hành động (tính quyền lực của ngôn ngữ – M. Foucalt). Những bức tranh hiện thực thôi thúc lương tâm, thôi thúc những ai có đức tin. Lương tâm chúng ta phải trả lời câu hỏi này của Chúa:

“-Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói, khát, hoặc là khách lạ, hoặc trần truồng, đau yếu hay ngồi tù, mà không phục vụ Chúa đâu ?”.

Bấy giờ Người sẽ đáp lại họ rằng: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy“. (Mt 25, 44-45).

Phẩm chất “Hiện thực cứu rỗi” trong truyện của Cao Gia An là sự thức tỉnh lương tâm trước những vấn đề nhân sinh trong nhãn quan Kitô giáo.

5. Nữ tu Xuân Cát OP- trường ca “Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid” [[14]]

Sr Xuân Cát OP. dòng nữ Đa Minh Gò Vấp, sinh năm 1988 tại Phú Thọ, Giáo phận Hưng Hóa, là tác giả trẻ, tài năng của văn học Công giáo đương đại. Sr đã đạt Giải VHNT Đất Mới ở nhiều thể loại. Năm 2019, truyện dài Đời làm hạt đạt giải Khuyến khích. Năm 2020, kịch thơ Món quà kỳ diệu đạt Giải Nhất. Năm 2022, trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid  đạt Giải Nhất. Năm 2024, đạt Giải Nhất trường ca: “Gương phúc tử đạo” và Giải Nhì kịch bản văn học: “Nắng sau lưng chiều”.

            Anh lửa đức tin là một trường ca tự sự. Tác giả kể lại câu chuyện của một đứa bé trong mùa đại dịch. Dịch tràn đến, người bố đi chống dịch. Tình hình dịch rất căng thẳng. Bố chết. Người mẹ ở nhà sinh con. Chị phải phẫu thuật, nhưng chị cũng ra đi khi vừa thấy mặt con. 30 năm sau, có một linh mục già, người đã từng bồng bế đứa bé mất cha mất mẹ trong mùa đại dịch năm xưa. Cha già hỏi linh mục trẻ, khi Covid xảy ra, Chúa ở đâu:

Ngài vẫn ở bên chúng ta

Ngài cảm thấu hết những bệnh tật của ta

những ai chạy đến với Giêsu trong ánh sáng đức tin

sẽ gặp Ngài/ vì Ngài là con người và đã có kinh nghiệm về tất cả những điều này.”

 

Có thể thấy một sắc thái khác của “Hiện thực cứu rỗi” trong trường ca của Sr. Xuân

Cát OP. Đó là sắc thái lãng mạn mang tư tưởng của Tin Mừng. Bài giảng trên núi của Đức Giê su, “Tám Mối phúc” (Mt 5,1-12) là một bài ca tràn đầy lạc quan:

Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế”(Mt 5, 12)

***

6. Vinh Kiu – Đóa hồng thứ 40 [[15]]

Vinh Kiu là bút danh của tác giả Giuse Lê Ngọc Thành Vinh. Vinh Kiu sinh năm 1980 tại Hà Tĩnh. Anh hiện sống tại Hà Nội, công tác ở Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tiểu thuyết “Đóa hồng thứ 40” của Vinh Kiu đoạt giải Nhất cuộc thi Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới năm 2020 của Giáo phận Xuân Lộc. Anh cũng đã xuất bản tiểu thuyết “Hoa trong bão” (Nxb. Hồng Đức, 2022), tập truyện ngắn “Maria ngoại truyện” (Nxb. Hồng Đức, 2022)… và tập truyện ngắn Lấy người ngoại giáo (Nxb. Hồng Đức, 2025).

Vinh Kiu có lối viết hiện đại, trẻ trung. Anh đối mặt trực diện với những vấn đề thách thức lương tâm Công giáo trong đời sống xã hội hôm nay.

ĐÓA HỒNG THỨ 40

Truyện dài Đóa hồng thứ 40 còn đặt ra nhiều vấn đề “nóng” của xã hội Việt Nam đương đại. Đó là: tuổi trẻ sống ảo, yêu ảo; vấn đề Formosa và sự hủy hoại môi trường; việc xuất khẩu lao động chất chứa nhiều điều phạm pháp và hiểm nguy như vay nóng, bị dụ dỗ làm việc phạm pháp (như đóng phim JAV, trồng cần sa…); vấn đề “đại kết” Công giáo và Tin Lành. Đặc biệt là tình cảnh của người trẻ ở Việt Nam. Học xong ra trường, sinh viên muốn xin được việc thì phải “chạy” tiền, hoặc phải bán thân cho giám đốc; sự phí phạm tài năng; cấu trúc gia đình bị phá vỡ khi xu thế làm mẹ đơn thân tăng lên đối với bạn gái …

Vì tác phẩm có nhiều phẩm chất một truyện ký (ký sự, phóng sự) nên những ghi chép về một số mặt đời sống và con người khá cụ thể và sống động. 

Có một thực tế, Hiền đã nản lòng: “cô than trách Chúa, lúc con tàu của bố bị đắm thì Chúa đang ở đâu, đã bao lần Người nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau của gia đình cô như vậy? Người đã lấy đi em gái cô, đã lấy hết niềm vui của mẹ, biến mẹ thành một cỗ máy chỉ biết cày cuốc kiếm ăn để quên đi những nỗi đau, ấy vậy mà Người còn kéo mẹ đi sớm. Người đã để mặc cho chị gái của cô thân bại danh liệt, thằng Cò mất cha. Người thậm chí đã lấy đi cả ba chàng trai mà cô hết lòng yêu thương. Và giờ đây Người đã không cho bố cô và con cháu một cơ hội nào để được sống, thậm chí là để tồn tại như một con người có tự do và mưu cầu hạnh phúc…”(tr.123)

Đó là cách lý giải chỉ nhìn vào hiện tượng “tự nhiên chủ nghĩa”. Sau cái chết của Huyền My, bông hồng thứ 39, Thanh Hiền có nhận ra điều này: “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”.

Như vậy, “hiện thực” trong Đóa hồng thứ 40 là hiện thực có tính thời sự, mang nhiều ý nghĩa xã hội và màu sắc chính trị. Hiện thực ấy mở rộng không gian (trong xu thế toàn cầu hóa). Tác giả cũng thâm nhập sâu hơn vào sự phức tạp của đời sống người trẻ Công giáo hôm nay, để lên tiếng nói cảnh báo xã hội và Giáo hội về đời sống đức tin của người trẻ.

Hiện thực cứu rỗi” còn ở phía trước. “Mùa Xuân Tuổi Trẻ của “đóa hồng thứ 40” sẽ đi về đâu, tất cả đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa”[[16]].

Ai sẽ “cứu rỗi” người trẻ trong tình cảnh bi đát của thế giới hôm nay?

Vâng, chúng ta cậy trông vào sự quan phòng của Thiên Chúa. “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).

Và vì thế, “Hiện thực cứu rỗi” trong “Đóa hồng thứ 40” là “hiện thực của đức tin”.

7. Văn chương Song Nguyễn và “Hiện thực cứu rỗi”[[17]]

(Tác giả bài viết và Song Nguyễn                                                                                                    -ĐGM Đaminh Nguyễn Chu Trinh. Giám mục Giáo phận Xuân Lộc 2004-2016)

           Tôi đã viết hai chuyên luận (Nghiên cứu-phê bình) về văn chương Song Nguyễn:

Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV, 2014. Tái bản năm 2019 và năm 2025.

Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo (2026).

Vì thế trong bài viết này, tôi chỉ xin nhắc lại đôi điều.

Song Nguyễn là bút danh của Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004-2016). Đến nay ngài đã 90 tuổi (sinh năm 1936) nhưng vẫn còn đang đảm trách xây dựng Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Núi Cúi. Công trình được Đức cha Đaminh và giáo phận Xuân Lộc khởi công xây dựng từ năm 2014. Đức cha Đaminh cũng là người cùng với giáo phận Xuân Lộc trùng tu xây dựng Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu, tượng Chúa Kitô Tao Phùng, xây dựng Trường Cao đẳng nghề Hòa Bình, xây dựng cơ sở CaritasHọc Viện Công giáo Việt Nam.

Các tác phẩm văn học đã xuất bản:

1.Một Đời Dâng Hiến, truyện dài. Nxb Tôn Giáo. 2009

2.Đất Mới, truyện dài 3 tập. Nxb Tôn Giáo.  2009

3.Đồng Hành, truyện dài. Nxb Tôn Giáo.  2010

4.Định Hướng, truyện dài. Nxb Tôn Giáo.  2011

5.Chuyến Xe Về Trời, tập truyện ngắn 1. Nxb Tôn Giáo. 2011

6.Còn Một Niềm Tin, tập truyện ngắn 3. Nxb Tôn Giáo. 2011

7.Suối Nguồn, tập truyện ngắn 4. Nxb Tôn Giáo. 2011

8.Người Cha Hiền, tập truyện ngắn 5. Nxb Tôn Giáo.  2012

9.Mẹ Yệu của Con, tập truyện ngắn 6. Nxb Tôn Giáo.  2012

10.Chỉnh Hướng, truyện dài, Nxb Tôn Giáo, 2013

11.Đồng Cỏ Xanh, truyện dài,  Nxb Phương Đông, 2013

12. Tiếng Kêu, truyện dài. Nxb Hồng Đức, 2019)

13. Đường lên Núi Cúi. Truyện dài tư liệu. Nxb Hồng Đức 2019

14. Hồi ký Song Nguyễn (3 tập):

Tập 1. Hãy ca tụng Chúa. Tập 2. Con đường thánh giá.

Tập 3. Đường lên Núi Cúi, đường của đức tin.

 

***

           Có thể nói, với 14 tác phẩm đã xuất bản (gồm truyện dài, truyện ngắn, hồi ký), Song Nguyễn là nhà văn lớn của văn học Công giáo Việt Nam đương đại.

Tác phẩm của Song Nguyễn cũng đã được nữ tu Đặng Thị Lĩnh nghiên cứu, viết luận văn Thạc sĩ, và bảo vệ thành công tại Trường ĐHSP TP. HCM năm 2025 với đề tài: “Cảm hứng tôn giáo trong sáng tác của Song Nguyễn”.

Nhà nghiên cứu văn học Công giáo Lê Đình Bảng nói về văn học Công giáo:

            “Bởi thực tế cho đến nay, qua các công trình văn học sử Việt Nam, chỉ thấy lác đác vài ba trường hợp được nhắc đến rất khái quát, rất nhạt nhoà, không hợp lưu thành một dòng chảy, một khuynh hướng, một trào lưu văn học mang tính Công Giáo. Chẳng hạn, Nguyễn Trọng Quản, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoàng Mưu… và nữ sỹ Thuỵ An. Thế là hết! Hèn chi, các nhà nghiên cứu, các bạn bè thơ văn ngoài đời vẫn bảo, Công Giáo các ông làm gì có tiểu thuyết và truyện ngắn, tức là thiếu hẳn một bộ phận hữu cơ của văn học”[[18]].

Xét trong tương quan với lịch sử văn học, Song Nguyễn là tác giả viết 15 tác phẩm văn học Công giáo. Các tác giả khác chỉ một vài cuốn. Thí dụ, tác giả Phêrô Nghĩa (trên Nam Kỳ Địa Phận) có các tiểu thuyết: Cha giết con, Đôi bước lưu ly, Ô là tự do! Nhị Độ Mai

Về nội dung, tư tưởng, văn chương Song Nguyễn phản ánh một diện rất rộng hiện thực sống đạo của người Công giáo Việt Nam suốt từ 1945 đến khi “Đổi Mới” (1986). Vì thế, hiện thực trong tác phẩm của Song Nguyễn là hiện thực mang tính sử thi, mà trước đó, chưa tác phẩm văn học Công giáo nào đạt tới được (xin phân biệt với thể loại Sử thi).

Bằng Mỹ học Kitô giáo, tư tưởng nhân văn của Tin Mừng và bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”, Song Nguyễn cũng giải quyết nhiều vấn đề tư tưởng lớn của thời đại. Chẳng hạn, hóa giải những định kiến lịch sử về đạo Công giáo ở Việt Nam, thực hiện chủ trương “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của Hội đồng Giám mục Việt Nam (Thư chung 1980), xây dựng được hệ thống hình tượng nhân vật mới mẻ (gồm linh mục, tu sĩ, giáo dân) là người công dân sống đức tin, bên cạnh những kiểu nhân vật khác của văn học dân tộc (nhân vật trong Văn học Lãng mạn, Văn học hiện thực phê phán, Văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa).

Tác phẩm của Song Nguyễn cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận văn học Công giáo mà các nhà nghiên cứu, các nhà văn đi sau có thể tham khảo. Bởi, cho đến nay (2026) văn học Công giáo vẫn lả một nền văn học tự phát, chưa phát triển thành một dòng văn học trong lịch sử văn học, chưa có được một lý thuyết văn học làm phương pháp luận cho nghiên cứu và sáng tác. Nghiên cứu tác phẩm của Song Nguyễn, các nhà nghiên cứu có thể hệ thống hóa những tư tưởng, những nguyên tắc sáng tác của văn học Công giáo và có thể định hình một nền lý luận.

Trong Lời tác giả (in ở phần mở đầu tác phẩm), Song Nguyễn viết: Viết lại những mảnh đời, những số phận, những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này…”.

Điều này giúp người đọc hiểu mục đích sáng tác và diễn ngôn tác giả gửi trong tác phẩm: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật”. Đối với người đọc Công giáo, đọc tác phẩm của Song Nguyễn là tiếp cận với những bài học sống đức tin trong mọi hoàn cảnh. Và tư tưởng bao trùm tác phẩm của Song Nguyễn là Thiên Chúa quan phòng mọi sự. Người Công giáo vững tin bước đi trên con đường cứu rỗi (hay con đường Thánh giá) bằng lòng tin ấy.

Tác phẩm của Song Nguyễn đã định vị được bút pháp “Hiện thực cứu rỗi mang tính sử thi cho văn học Công giáo đương đại.

 

MỘT VÀI GHI NHẬN

 

1.       Phản ánh hiện thực là thuộc tính văn chương, nhưng chọn lựa mảng hiện thực nào,

nhìn hiện thực ấy bằng nhãn quan nào, miêu tả cụ thể hiện thực ấy ra sao, hiện thực ấy đặt ra vấn đề gì, tác giả gửi gắm trong hiện thực ấy diễn ngôn gì… tất cả những điều ấy làm nên nội dung tác phẩm và xác lập bản chất một nền văn học.

Cho nên, nội dung Văn học Lãng mạn (1930-1945) khác với Văn học Hiện thực phê phán. Cũng vậy, Văn học Hiện thực Xã hội chủ nghĩa phủ định cách viết của Văn học Lãng mạnVăn học Hiện thực phê phán. Văn học Việt đương đại cũng rất e dè với chủ nghĩa Hậu Hiện đại, bở Hậu hiện đại viết “giải thiêng”, lật đổ những “đại tự sự”, “phi tâm”, “phân mảnh”… Về tư tưởng, Hậu Hiện đại là tư tưởng đa nguyên chính trị.

Để kiến tạo một tác phẩm văn học Công giáo, nhà văn Công giáo nhất thiết phải hướng ngòi bút của mình về hiện thực đời sống của người Công giáo, nhìn bằng nhãn quan Mỹ học Kitô giáo và miêu tả hiện thực ấy bằng bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” thấm nhuần tinh thần nhân văn của Tin Mừng: Con người là chi thể Đức Kitô, ở cùng với Đức Giê su và được Thiên Chúa xót thương (Ga 15, 5 & 17, 23).

2.      Khi miêu tả “Hiện thực cứu rỗi” thì tính chân thực (“là đường, là sự thật và là sự

 sống”) và mục đích “cứu rỗi” của văn học Công giáo phải là những phẩm chất hàng đầu. Vì thế, nhà văn không thể bẻ cong sự thật, hoặc sáng tạo những điều trái với quy luật hiện thực, cũng không thể miêu tả “tự nhiên chủ nghĩa”.

Song Nguyễn gợi ra một định hướng: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này…”(Lời tác giả – đd).

3.      Lướt qua một số tác giả văn học Công giáo đương đại, người đọc có thể nhận ra

Hiện thực cứu rỗi” của văn học Công giáo cũng có nhiều màu sắc thẩm mỹ.

Hiện thực cứu rỗi” trong Kinh Thánh giàu ý nghĩa tư tưởng và tâm linh. Truyện của Linh mục Nguyễn Trung Tây, Cao Gia An đi theo hướng này.

Truyện của Lm. Nguyễn Đức Thông là “Hiện thực cứu rỗi trần trụi”. Tác giả không ngại nói thẳng ra những điều khó nói (Cây Thánh giá giả).

Trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid của Sr. Xuân Cát OP. lả hiện thực có màu sắc lãng mạn.

Đóa hồng thứ 40” của Vinh Kiu là “hiện thực đức tin”;

và hiện thực trong tác phẩm của Song Nguyễn là hiện thực mang tính sử thi,…

Phẩm chất của hiện thực được quyết định bằng sự trải nghiệm, bằng suy tư, bằng vốn văn hóa và tấm lòng đối với con người cùng với nghệ thuật sáng tạo của tác giả. Xét ở phương diện này, truyện dài Ôi tội hồng phúc của Nguyễn Phương Thảo (Canada), Giải Nhất truyện dài Đất Mới năm 2017, là một tác phẩm đặc sắc.

4.      “Hiện thực cứu rỗi” có thể giúp làm rõ hơn một vài vấn đề lý luận văn học Công

giáo: Thế nào là tác phẩm văn học Công giáo? Nhà văn Công giáo khác với nhà văn thế tục thế nào? Văn học Công giáo đóng góp điều gì mới mẻ cho văn học Việt?

Và xét ở góc độ phản ánh hiện thực, nhà văn Công giáo còn một “nguồn” mênh mông có thể viết tác phẩm. Đó là lịch sử 500 năm giáo dân Việt đã sống đạo đẹp đẽ thế nào, đã đóng góp gì cho văn hóa Việt…

Trước đây, Alexandre de Rhodes đã viết: Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài (1651), Du hành và truyền giáo (1653), Cái chết vinh hiển của André (1653); Lm Philippe do Rosario Bỉnh đã viết: Sách sổ sang chép các việc (1822), Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1793 / 1797), Truyện Anam Đàng Ngoài & Truyện Anam Đàng Trong (1822)…Linh mục Đặng Đức Tuấn đã viết “Thuật tích việc nước Nam”(1861)…

Các tác giả Công giáo đương đại chưa ai viết những tác phẩm giàu tính hiện thực lịch sử  như cha ông đã viết, tôi nghĩ đó là một con đường mà các nhà văn trẻ Công giáo cần tiếp tục hảnh trình của cha ông.

Tháng 8/ 2026

 

___________________________

 

 

 

 

 

 

 

 

[1] Bùi Công Thuấn: Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo Việt Nam đương đại

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN và Những vấn đề Lý luận văn học Công giáo

[2] Joseph Tân Nguyễn ofm:Các truyền thống nghiên cứu ngôn ngữ

https://hocvienofm.com/bai-viet/triet-hoc-ngon-ngu/cac-truyen-thong-nghien-cuu-ngon-ngu

[3] Nxb HNV dừng phát ành sách của Trần Thanh Cảnh

https://vnexpress.net/nxb-hoi-nha-van-dung-phat-hanh-ba-cuon-sach-ve-thoi-nha-tran-5104635.html

 

[4] Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo. https://www.studocu.vn/vn/document/university-of-economics-hcmc-international-school-of-business/van-tai-va-bao-hiem/chu-nghia-hien-thuc-huyen-ao-khai-niem-va-dac-diem-chinh/132878408

[5] Về Chủ nghĩa Hiện thực huyền ảo trong văn học. https://redsvn.net/ve-chu-nghia-hien-thuc-huyen-ao-trong-van-hoc2/

[6] Chủ nghĩa Hiện thực không bờ bến. AI-hay

[7] Lời của chủ tịch Hồ Chì Minh trong thư gử họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa. Thư đăng trên Báo Cứu quốc, số 1986, ngày 5-1-1952 – https://www.qdnd.vn/ho-so-su-kien/loi-bac-day-nam-xua/van-hoa-nghe-thuat-cung-la-mot-mat-tran-anh-chi-em-la-chien-si-tren-mat-tran-ay-528181

[8] Diêm Liên Khoa-Chủ nghĩa thần thực trong văn học đương đại-Nguyễn Thị Thúy Hạnh dịch

-https://vanviet.info/nghien-cuu-phe-binh/chu-nghia-than-thuc-trong-van-hoc-duong-dai/

[9] https://trieuxuan.vn/ve-mot-dac-diem-cua-van-hoc-nghe-thuat-o-ta-trong-giai-doan-vua-qua

 

[10] Lê Giang Trần: Đọc chữ nghĩa tu sĩ bình bát Nguyễn Trung Tây .

https://www.vanthoconggiao.net/2022/08/doc-chu-nghia-tu-si-binh-bat-nguyen-trung-tay-tac-gia-le-giang-tran.html

 

[11] Bùi Công Thuấn: Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV 2022

[12] Xin đọc Bùi Công Thuấn: Lm Đaminh Nguyễn Đức Thông và Những vấn đề thời đại

LM ĐAMINH NGUYỄN ĐỨC THÔNG & Những vấn đề thời đại

[13] Bùi Công Thuấn: Cao Gia An – Bên ngoài cổng nhà thờ.

https://www.vanthoconggiao.net/2017/12/ben-ngoai-cong-nha-tho-lm-cao-gia-an.html

[14] Xem thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr. 415

[15] Đọc thêm: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức 2025. Tr. 406

[16]Đóa hồng thứ 40” là người thứ 40 bị chết ngạt trong thùng xe đông lạnh khi trốn sang lao động chui ở nước Anh. Ngày 23/10/2019, nhà chức trách phát hiện 39 công dân Việt Nam tử vong trong một thùng xe container đông lạnh tại hạt Essex, Anh. “Đóa hồng thứ 40” đã chết thì “sẽ đi về đâu” nữa?

[17] Xin đọc Bùi Công Thuấn:

Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn (Chuyên luận). Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025

Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề lý luận văn học Công giáo (Chuyên luận) 2026.

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN và Những vấn đề Lý luận văn học Công giáo

[18] Lê Đình Bảng. Văn Học Công Giáo Việt nam-Những chặng đường. Nxb Từ điển Bách khoa. 2010. Tr. 315.

Loading

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok