Tiểu thuyết Khải Huyền Muộn và Kitô giáo

 

TIỂU THUYẾT “KHẢI HUYỀN MUỘN” và KITÔ GIÁO

(Đọc Khải Huyền Muộn của Nguyễn Việt Hà. Nxb Trẻ 2022)

Bùi Công Thuấn

***

Đọc bản full theo link:

https://www.mediafire.com/file/pk1f1t6tg4reeuv/4+KHẢI+HUYỀN+MUỘN-Bản+full+official.pdf/filehttps://drive.google.com/file/d/1cr10G8x98m3oDT0GG31raCzh60Ty63aZ/view?usp=drive_link

 

Nhà văn Nguyễn Việt Hà (tên thánh là Giuse) sinh năm 1962 tại Hà Nội. Ông học về kinh tế, từng là công chức của một ngân hàng Nhà nước. Bút danh Nguyễn Việt Hà là tên người bạn đời của ông [[1]].

Tác phẩm chính: “Cơ hội của Chúa” (1999), “Khải huyền muộn” (2003), “Của rơi” (2004), “Nhà văn thì chơi với ai” (tạp văn. 2005), “Đàn bà uống rượu” (tạp văn. 2010), Con giai phố cổ (tạp văn. 2013),“Ba ngôi của người” (2014), Buổi chiều ngồi hát (tập truyện ngắn. 2016), Thị dân tiểu thuyết (2019), Giọng của phố (tản văn-2023). Tuyệt không dấu vết (truyện trinh thám. 2024)…

Giải thưởng

“Thị dân tiểu thuyết” đoạt Giải thưởng Văn học 2019 của Hội Nhà văn Hà Nội

“Tuyệt không dấu vết” đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 2024.

Ông có bộ ba tiểu thuyết mà nhan đề gợi ra trong tâm trí người đọc về Kitô giáo: Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn Ba ngôi của người. Nhiều người đã viết về tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, tôi không nhắc lại.

Tôi chọn đọc Khải Huyền Muộn để xem xét yếu tố Kitô giáo trong tiểu thuyết của Nguyễn Việt Hà, từ đó xác lập đặc điểm của một “tác phẩm văn học Công giáo” và những phẩm chất của một “Nhà văn Công giáo”.

KHẢI HUYỀN MUỘN

Khải Huyền Muộn kể chuyện nhà văn Bạch viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc tình của Cẩm My (người mẫu) với Vũ, một cán bộ cao cấp ngành thể thao (tr.176-177). Tác giả cũng kể chuyện riêng của hai nhân vật Bạch và cô người mẫu (nguyên mẫu ngoài đời của Cẩm My).

Hình thức viết của Khải Huyền Muộn là “tiểu thuyết trong tiểu thuyết”. Các nhân vật đều xưng “Tôi”.  Chuyện của các nhân vật lồng vào nhau. Trang văn là dòng suy nghĩ của nhân vật, đa phần là hồi ức. Văn được viết liền mạch, không xuống hàng, không tách đoạn, không phân biệt chuyện của nhân vật này với nhân vật khác, không tách biệt quá khứ và hiện tại. Tuyến thời gian bị xóa nhòa, mạch truyện bị đứt đoạn. Thủ pháp hư cấu để hư cấu, bịa chuyện để kể chuyện bịa được sử dụng triệt để. Dù vậy, tất cả các nhân vật trong Khải Huyền Muộn chỉ là một nhân vật, đó là chính tác giả.

Cảm hứng sáng tác xuyên suốt tác phẩm là Cảm hứng phê phán hiện thực. Tác giả vẽ ra bộ mặt tha hóa đạo đức ở khắp mọi nơi trong xã hội Việt Nam: sex, gái, tiền và tham nhũng thối nát; sự giả dối và đổ vỡ. Bao trùm là tiếng cười bêu riếu, bày tỏ sự hoài nghi tất cả, kể cả đức tin tôn giáo, hoài nghi chính bản chất vô nghĩa của văn chương. Tác phẩm không có nhân vật tích cực. “Kẻ bất lương thì hãy bất lương nữa. Kẻ nhơ nhớp thì hãy nhơ nhớp nữa”(Khải Huyền. tr. 358).

Tiếc là, Nguyễn Việt Hà chỉ dừng ở phê phán hiện tượng.

KITÔ GIÁO TRONG KHẢI HUYỀN MUỘN

Trong Khải Huyền Muộn, Kitô giáo được miêu tả từ cấp độ chất liệu chi tiết đến hình tượng nhân vật, và tư tưởng – chủ đề. Tác giả cũng vẽ ra một bức tranh toàn diện về hiện thực Kitô giáo ở miền Bắc.

  1. NHỮNG CHI TIẾT TÔN GIÁO

Trong Khải Huyền Muộn, có rất nhiều chi tiết truyện được lấy từ đời sống “nhà đạo”. Sự diễu nhại đầy hàm ý thể hiện trong cách tác giả dùng từ, diễn đạt, cách chọn sự việc.

Xin đọc:

Việc làm dấu thánh: “Cẩm My tò mò không dám hỏi Long. Liệu trước lúc ăn cơm nếu không làm dấu Thánh giá, anh ta có ăn được không”.

Nhà văn Bạch kể: Những năm 50 ở miền Bắc Việt Nam xẩy ra nhiều chuyện mà mãi mãi người ta không lý giải được là tại sao người ta đã làm như vậy… “Bố mẹ tôi nhiều lần cãi nhau,…Bố tôi tát mẹ, bà không vừa dùng cả hai tay tóm tóc ông. Bố tôi chồm lên giật cái dây chuyền mỏng mảnh vàng tây có đính cây thánh giá bằng bạc tượng Chúa Giêsu chịu nạn. Ông hung dữ ném nó xuống chân, rồi lấy đôi ủng bê bết bùn đạp bồm bộp lên. Mẹ tôi buông tóc bố tôi lao vào cào cấu. Tôi oà khóc hoang mang chạy về phía nhà thờ Lớn (tr. 160)

Chuyện Vũ lén lút đi nhà thờ.

“Cẩm My âm thầm cũng biết Vũ một mình đi lễ. Một buổi sáng sớm đương nhiên có mưa nhẹ ở Đà lạt…Rồi còn một vài lần nữa, nhất là cái lần ở đảo Phú Quốc. Cẩm My đứng xa xa chờ Vũ, thấp thoáng nhìn ngôi nhà thờ cũ kỹ vách tôn mái tôn… Cẩm My chưa bao giờ gặng hỏi là tại sao Vũ không rủ cô đi lễ nhà thờ “(tr. 77).

Việc rước lễ nhếch nhác.

Trẻ con rước lễ mặc quần rách. Thằng Bạch chịu lễ lần đầu lúc 11 tuổi. “Khi 9 thằng con giai lổn nhổn quỳ xuống chờ ban Thánh Thể, chỉ khâu mông quần bọn chúng, đồng loạt bị bục. Một mầu da trắng xanh của một thời khổ ải non nớt vì thiếu đạm. Hồi ấy, hầu hết bọn trẻ con không mặc gì bên trong” (tr. 181) Cha xứ “đang cầm cốc mạ vàng đựng Mình Thánh Chúa, nhìn 9 thằng nhóc hở mông, ông cười rung cả tay…Cha xứ tự dẫn bọn trẻ vào phòng thay áo, để mẹ chúng nó khâu lại đít quần (tr. 182).

Văn học viết về các linh mục Công giáo:

Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có nhân vật chính là các ông cha thì không nhiều, nhưng cũng chẳng hiếm. Hầu hết đều tham ăn rượu chè háu gái, nói dối như Cuội” (tr. 185).

Người say rượu vẫn đi nhà thờ.

Bạch uống rượu say. Anh “lảo đảo đi về phía nhà thờ dự lễ chiều. Đang mùa Chay.”(tr. 224)

Chuyện người có đạo trong mắt người yêu ngoại đạo:

Cô người mẫu nói: “Người yêu đầu tiên của tôi mắt buồn, khe khẽ lắc đầu. Anh là người tin rằng Chúa Giêsu chịu nạn trên cây thánh giá và Đức Mẹ Maria có con mà vẫn đồng trinh. Tuần anh đi lễ nhà thờ Lớn ba lần và chưa bao giờ bỏ lễ ngày Chủ nhật. Vào tuần cuối của tháng Phục Sinh anh kín đáo ăn chay…Có một lần khuya muộn anh nhút nhát hôn tôi và rụt rè lần tay xuống phía dưới cổ tôi. Tôi hơi cong người để cả bàn tay anh trôi sâu vào ngực. Chúng tôi yêu nhau được hơn một năm và cũng 10 năm sau tôi sẽ còn gặp anh”(tr. 26).

Việc xưng tội của người Công giáo:

Hơn một lần khi đã thân, Bạch có hỏi cha Lệ, người đã cùng học với Bạch suốt cả 7 năm phổ thông. -” Lạy cha, con có nghe đồn là thỉnh thoảng lúc xưng tội, một vài thiếu nữ buột mồm tỏ tình với cha xứ“. -” Tôi cũng nghe đồn vậy. ở phương Tây, các nhà văn có vẻ thích đề tài này lắm“(tr. 65).

Hình ảnh thảm hại của vị linh mục trong cảnh nhốn nháo của một đám tang.

“Mấy bà này đành dựa cây Thánh giá nhỏ bằng gỗ vào giá sách của Vũ, trĩu nặng những quyển triết Mác Lê gáy tím đỏ, rồi lầm rầm lần tràng hạt. Xin Chúa mở cửa Thiên đàng cho linh hồn này được trở về quê mình, là nơi không còn chết chóc và là nơi hạnh phúc tồn tại muôn đời. Khoảng chín giờ muộn, một ông cha phục phịch to béo được mấy bà già có đạo mời đến. Đang thập thò thì bị gã phó phòng hành chính ở cơ quan Vũ, kiêm phó ban lễ tang, thô bạo đẩy bật ra. Ông cha béo chới với, nhưng vẫn cố vẩy ít nước phép về phía kẻ liệt. Gã phó phòng trừng mắt, doạ gọi công an hộ khẩu tới bắt về tội hành nghề mê tín dị đoan. Vũ hoang mang mặc kệ” (tr. 84).

Đây là chuyện cười của xứ đạo Nhạc Giao:

“Dân Nhạc Giao là dân đạo toàn tòng. Nhà thờ chính xứ khi chưa bị bom Mỹ phá, được coi là một kiến trúc tôn giáo khá độc đáo của vùng Sơn Nam Hạ. Ông nội Vũ là một trong vài người chủ chốt thiết kế lên ngôi Thánh đường đó. Cha xứ đầu tiên thuộc dòng Đa minh, người Tây Ban Nha. Ông này ghét Pháp, tính hiền, rất được lòng dân bản địa. Giống như các chính trị gia khai quốc, những nhà truyền giáo tiên khởi, ông có vô số các ưu điểm. Khuyết điểm tệ nhất của ông là ham uống rượu mạnh. Khi luý tuý say, ông chui vào một góc trong phòng thay áo, ông ổng hát thánh ca. Nhiều bài vãn dâng hoa vào tháng Mân Côi có làn điệu Chèo ở vùng này là của ông nghĩ ra. Toà Tổng muốn đổi, vì nghe đồn giáo dân lựa gạo nếp ngon nấu rượu chui, đưa ông. Ông chết vì bệnh gan vào những năm nhập nhoạng đầu thế kỷ XX. Và là cha người Tây duy nhất được chôn dưới nền cung thánh của nhà thờ xứ”(tr.78-79).

  1. NHÂN VẬT TÔN GIÁO

            (trích dẫn từ tác phẩm để giữ nguyên giọng văn Nguyễn Việt Hà)

Gia đình Vũ.

Họ nội khi đến đời bố Vũ đều là dân đạo gốc. Tên thánh của Vũ là Giuse. Cha đỡ đầu là ông quản Hậu. Ông nội Vũ là cựu Chánh trương xứ đạo Nhạc giao. Sau lễ rửa tội một tháng của Giuse Vũ thì ông nội nó mất bệnh. Ngày lễ Đức Bà lên giời 15/8/1954, bố Vũ bị ca nô Pháp bắn chết ở gần cầu Gián. Bốn năm sau, bố Vũ được xác nhận chính thức là liệt sĩ. Bà Anna Nghi, mẹ Vũ, lúc hấp hối khát khao được làm phép xức dầu. Nhưng bà sợ ảnh hưởng tới thằng con trai đã Đảng viên nên không dám nài. Sơ yếu lý lịch của Vũ, suốt từ hồi phổ thông lên đến Đại học, mục khai tôn giáo đều ghi: không. Họ nội họ ngoại phôi pha cùng thời gian thì nửa đạo nửa đời, mà cũng chỉ còn những chi lẻ xa xa ở dưới quê, đều ngại cho Vũ…Mẹ Vũ ở làng lương, khi xuất giá mới theo hẳn đạo. Vũ cũng giống như nhiều người dân lộm nhộm ở các đô thị miền Bắc, ý niệm về tôn giáo lung tung lờ nhờ. Một nỗi sợ không có hình váng vất (tr. 83-85).

Linh mục Phanxicô Savie Đức, chú ruột của Vũ.

“Vũ không biết mặt bố, chỉ nhìn qua tấm ảnh chụp cũ kỹ, được rửa rất nét trên giấy lụa. Mẹ Vũ trỏ người thanh niên mắt sáng gầy gò trong bộ áo chùng đen. “Đây là chú Đức, ông nội của con chỉ có hai người con trai” (tr. 78)

“Cụ linh mục Đức để lại rất nhiều bản thảo, chủ yếu linh tinh bàn về Thần học. Một cuốn sổ tay dầy, chắc viết trong nhiều năm, hành văn kiểu nhật ký nhưng không ghi ngày tháng. Có một tập giấy khổ nhỏ xít dòng viết về một giáo sĩ người Pháp tên là Alexandre de Rhodes. Nét chữ không giống lắm nét chữ ở bản thảo Thần học. Cuối năm 54, ông chú duy nhất của Vũ theo bọn phản động Công giáo di cư vào Nam. Sau ngày 30/4 bẩy nhăm, Vũ vừa trẻ vừa bận nhiều việc, có đi công tác vào Sài Gòn, bâng khuâng nhớ ra đi tìm ông. Đến lúc mẹ Vũ gần mất, bà áy náy nhắc Vũ. Thật ra, trước cũng như sau ngày bà Anna Nghi mất, rất nhiều lần Vũ đã miên man đi kiếm ông linh mục chú ruột” (tr. 77-78).

Tại sao Vũ đi tìm linh mục Đức?

“Vũ day dứt tiếc mình đã không được gặp cụ linh mục Đức. Vào một đoạn thời gian không thể nhớ nổi, nhưng có lẽ là buổi sáng, cha bề trên của tu viện một dòng khổ tu đã đưa lại cho Vũ tập bản thảo của cha Phanxicô Xaviê Đức” (tr.269).

“Chợt nhiên trong sâu xa, Vũ nhói một khoảng hư vô trống trải đến khó tả. Đây là lần đầu tiên Vũ có cái cảm giác kỳ dị này. Rồi đây cái nhói trống vô nghĩa bất khả giải thích ấy thỉnh thoảng lại chập chờn hiện về hành hạ Vũ. Những lúc ấy Vũ loay hoay khát khao muốn tìm gặp cụ linh mục Đức”(tr. 293).

“Nghĩ cho cùng, Cẩm My là một đứa trẻ con, thậm chí rất trẻ con. Vũ hình như yêu cô bởi những cái trẻ con ấy. Nhưng những ngây thơ hoặc trong trắng không thể là điểm tựa, nó đơn giản chỉ là một sự níu vớt. Có những cái nhớ hoặc thoắt xa hoặc thoắt gần phức tạp khó lý giải. Nếu mọi chuyện là đơn giản thì tại sao cho đến tận hôm nay Vũ cứ phải loay hoay đi tìm cụ linh mục Đức” (tr. 274)

“Cái lần bảo vệ tiến sĩ thật, Quân thức đêm học lao lực đái ra máu. Quân thề, nếu có lần bảo vệ sau thì chỉ đái ra bia. Lời thề của gã sinh viên có bốn năm liền là thủ khoa linh nghiệm thật. Lần bảo vệ tiến sĩ thêm ở trong nước, mùi nước đái của Quân và của hội đồng Giáo sư chấm luận án đều sực nức thơm mùi Giôn đen. Vũ rất muốn hỏi cụ linh mục Đức rằng, đối với một trí thức thì như thế là một sự tha hoá hay là một sự thoả hiệp hay đó là cái gì”(tr. 275)

Linh mục Alexandre de Rhodes.

Chương 4, đoạn 2 là tâm trạng của Alexandre de Rhides khi ông bị trục xuất.

Rhodes ở trên một con thuyền nhỏ. Ông nhớ khi đám cai binh đập ảnh Chúa, Rhodes nằm sụp xuống che lấy ảnh, mặc cho những tay thước hung dữ vụt xuống lưng và vai của mình.

Năm Đinh Mão, tầu bị bão dạt vào Cửa Bạng, Rhodes và Marques đã được chúa Trịnh đang ngự chiến ở đó chấp thuận cho yết kiến. Đây là lần đầu tiên Rhodes tới Đàng Ngoài. Lúc đó Rhodes chưa thể đọc được lời của Đức Thánh Cha Jean-Paul 2 tôn vinh Đức Mẹ. Và thời đại của những con chíp điện tử liệu có làm người ta bớt hoang mang khi nghe thuyết giảng Phúc Âm. Rhodes biết cái chết của cha Pina có nhiều khuất khúc. Nhớ bà Giona, người sùng kính Quan Âm Bồ Tát. Nhớ quan Mậu Tài, không chịu rửa tội nhưng cho phép vợ và con tin sùng theo Đạo. Rhodes nhớ một chị phụ nữ xưng tội. Chị ta ngoại tình và giết chồng.

Chuyến lưu đầy này vẫn chưa phải là chuyến cuối cùng. Ông miên man trong ký ức. Đắc Lộ nhìn sông Hồng, trong sâu xa, Rhodes thấy nhiều vô nghĩa. Nhớ lễ Lá đầu tháng 3 năm 1629, một hoà thượng cùng với gã cử nhân trung niên đến hỏi: “Muốn giải thoát hay nói theo kiểu các ông là muốn cứu độ cho cả thế gian vô thường này thì có biết bao nhiêu là con đường. Tại sao Chúa của các ông nhỏ nhen dám tự nhận mình là con đường duy nhất“. Đắc Lộ băn khoăn không hiểu là, đức Thánh Cha có tục danh Vojtyla (Gioan Phaolo 2) của thế kỷ XX nếu trả lời thì sẽ giống như ông không.

Không cần đến 200 năm nữa, Đắc Lộ đã chắc chắn biết người Công giáo sẽ chịu hệ luỵ thê thảm từ phong trào Văn Thân.  Trong nhưng ngày cuối cùng trên giường bệnh ở xứ Ispahan tại I ran xa xôi, Rhodes đọc Huấn thị năm 1659. Nếu Huấn thị này được thực hiện trọn vẹn thì việc truyền bá Tin Mừng ở Á châu sẽ tốt đẹp tươi lành nhân hậu biết bao nhiêu.

Chon von đỉnh núi có sừng sững cây Thánh Giá gỗ lim. Rhodes nhận mình là kẻ có tội. Ông sấp người quỳ xuống lòng thuyền nức nở khóc. Hình như lúc ấy đang là cuối tháng 3 năm 1629. Một buổi chiều có nắng muộn của mùa chay.

Qua Rhodes, Nguyễn Việt Hà đặt nhiều vấn đề về truyền giáo của các giáo sĩ người nước ngoài và lịch sử Việt Nam.

  1. TÔN GIÁO NHƯ “MỘT Ý THỨC HỆ”

             (Trích dẫn từ tác phẩm)

“Nguyên chú hình như của Linh mục Đức:

‘Khi Ăng-Ghen nói “Nếu con bò mà cũng có đức tin, thì Thượng Đế của nó đương nhiên phải có đầu bò. Ăng-Ghen đã hiểu sâu sắc tôn giáo” (tr. 300)

Rhodes nghĩ: “Chúa Giêsu đã chọn mảnh đất lẫn lộn đen trắng ấy để gieo giống Phúc Âm đầu tiên bởi vì nó cũng là nơi bảo tồn và nuôi dưỡng mạnh mẽ đức tin nhất thần luận. Thế nhưng ngay lúc này đây, mặt đất Việt đang nghèn nghẹn một mầu xàm xạm thuốc súng, rải rác nhiều xác chết bị lấp bùn nhão sơ sài vội vã, những người chưa bao giờ biết phép rửa và vĩnh viễn không được chịu phép xức dầu. Cuộc nội chiến đã lên đến đỉnh điểm kinh hoàng giữa những người cùng mầu da cùng máu huyết mà những khi bình thường tất thẩy bọn họ đều hoà nhã hiền lành hiếu khách” (tr. 301).

Tôi đã đọc đi đọc lại cuốn Hành trình và truyền giáo của cố Đắc Lộ, những tín đồ đầu tiên người Việt Nam chẳng lẽ tin Phúc Âm một cách ngây ngô thế sao. Người bình dân thì có thể, còn quí tộc hoặc trí thức thì không thể đơn giản như vậy.” (tr 160-161)

“Cái hồi Đức Hồng Y ký vào thư gửi Đức Thánh Cha xin phong cho 117 Chân phước Việt Nam tử vì đạo được thành á Thánh, có quá nhiều chuyện ồn ào. Vài học giả đáng kính chuyên nghiên cứu lịch sử Đảng, viết bài công phu, vạch mặt bọn phản động đội lốt tôn giáo”(tr. 184) – “Cậu tin vào đạo Thiên Chúa thật à“.

Rhodes nghĩ: “Trong suốt 20 năm tới sẽ còn 6 chiến dịch nữa ở tầm cỡ như vậy. Toàn bộ bốn châu Hoan ái Ô Rí sẽ xơ xác nồng nặc mùi tử khí. Thế kỷ 17 rồi thế kỷ 18 sẽ chứng kiến đất Việt cạn kiệt nội lực. Và nước An Nam hoặc hùng ngôn là Đại Nam đương nhiên chính thức trở thành một nhược quốc. Nó đau đớn bị xâu xé bởi ngoại bang phương Tây là nước Pháp”(tr.319)

“…những người đã quen sống lương thiện cũng chẳng quá cần đến văn chương. Còn kẻ bất lương thì hãy bất lương nữa. Kẻ nhơ nhớp thì hãy nhơ nhớp nữa. Và kẻ công chính, lạy Chúa liệu có phải thật cố mà công chính. Tôi là người mong manh có đức tin và tôi là nhà văn. Khi viết, hầu như tôi không biết cố, vì đơn giản văn chương cũng chẵng cần gì…(tr.360)

  1. NHỮNG “CHUYỆN TÀO LAO”

Quả thực, những chuyện như “người Công giáo là dấu thánh tay phải” và “Linh mục Lệ không chim”, “ trẻ mặc quần rách mông rước lễ” phải gọi là chuyện gì? Vâng, chỉ là “chuyện tào lao”, cười vui một chút, khôi hài thôi! Bịa ra méo mó một chút, nào có chết thằng Tây nào! Những chuyện ấy không có vai trò gì trong sự phát triển cốt truyện, trong khắc họa tính cách nhân vật; và nếu bỏ đi, thì Khải Huyền Muộn cũng không mất đi một chút giá trị nào!

Nhưng nếu xét trong hệ thống chất liệu tác phẩm, ý đồ sáng tạo, và mục đích diễn ngôn của nhà văn, thì những “chuyện tào lao” ấy là “đòn đánh” rất hiểm vào những biểu tượng thánh thiêng của Kitô giáo. Với người Công giáo, làm dấu thánh là tuyên xưng đức tin, là tin thật Thiên Chúa Ba Ngôi, là thái độ sống đạo trung tín của người theo Chúa trong mọi hoàn cảnh (thí dụ, một cầu thủ phương Tây khi vào sân, có người làm dấu thánh). Linh mục là hiện thân của Đức Giêsu trong đời thường. Chức Linh mục là chức thánh. Người Công giáo rất tôn kính linh mục, vì Linh mục là mục tử, là người từ bỏ mình, vác thập giá theo Chúa, phục vụ đoàn chiên. Nói xấu Linh mục là trọng tội. Mình Thánh Chúa là hiện thể thân xác của Đức Kitô, là tín điều cực trọng của đức tin Kitô giáo.

Nguyễn Việt Hà gợi ra liên tưởng việc làm dấu thánh với việc rửa đít bằng tay, gợi ra hình ảnh Linh mục chỉ là một loại người quái gở, linh mục không chim, chẳng có gì là thánh thiêng cả; gợi ra liên tưởng Thánh Thể ngang với mông, đít những đứa trẻ rước lễ.

Đó là sự “tục hóa triệt đểnhững tín niệm thiêng liêng bậc nhất của Kitô giáo. Đó không phải là những “chuyện tào lao”. Với nhà văn, mỗi chữ, mỗi ý tứ được dùng, đều là chọn lựa có ý thức và có mục đích văn chương. Và ngôn ngữ có sức mạnh của nó (M. Foucault), không hề là vô nghĩa như Nguyễn Việt Hà nghĩ! Rõ ràng, nhà văn dùng “chuyện tào lao” để che giấu thân phận mình.

Tất nhiên, những “chuyện tào lao” của Nguyễn Việt Hà không thể sánh được với các tiểu thuyết có diễn ngôn trái ngược với đức tin Kitô giáo như Nhà thờ Đức Bà Paris của V. Hugo, Cơn cám dỗ cuối cùng của Chúa của Kazantzaky, Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCullough, Mật mã Da Vinci của Dan Brown, Bão biển của Chu Văn, Cha và con và…của Nguyễn Khải.

  1. KI TÔ GIÁO TRONG MẮT NHÀ VĂN

Khải Huyền Muộn đã vẽ nên một bức tranh toàn màu xám về Kitô giáo ở miền Bắc.

Đức tin là sự ngu xuẩn. “Nếu con bò mà cũng có đức tin, thì Thượng Đế của nó đương nhiên phải có đầu bò’(dân gian nói “ngu như bò”). Đây là một lập luận nguy biện. Con bò là giống vô tri, nhưng Thượng đế tạo ra con bò và muôn vật là Đấng toàn năng (Kinh Thánh). Khẳng định Thượng đế của con bò có đầu bò chính là sự phỉ báng Đấng toàn năng.

Rhodes xác nhận, chính Kitô giáo đã gây ra chiến tranh, “mặt đất Việt đang nghèn nghẹn một mầu xàm xạm thuốc súng, rải rác nhiều xác chết bị lấp bùn nhão sơ sài vội vã, những người chưa bao giờ biết phép rửa và vĩnh viễn không được chịu phép xức dầu”; gây ra những thảm sát thời Văn Thân.

Và Ki tô giáo gây ra cuộc xâm lược của Pháp (1858). Rhodes nghĩ: “Thế kỷ 17 rồi thế kỷ 18 sẽ chứng kiến đất Việt cạn kiệt nội lực. Và nước An Nam hoặc hùng ngôn là Đại Nam đương nhiên chính thức trở thành một nhược quốc. Nó đau đớn bị xâu xé bởi ngoại bang phương Tây là nước Pháp”(tr.319).

Những suy đoán hư cấu này là hoàn toàn bịa đặt và sai với nguyên tắc sáng tạo. Làm sao Rhodes có thể dự cảm Pháp xâm lược Việt Nam 200 năm sau khi ông rời Việt Nam và chết ở Ba Tư?. Xin lưu ý, Rhodes rời Việt Nam tháng 7 năm 1645. Đến tháng 9 năm 1858 quân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam.

Nguyễn Việt Hà hoài nghi về đức tin của cha ông: “…những tín đồ đầu tiên người Việt Nam chẳng lẽ tin Phúc Âm một cách ngây ngô thế sao?”. Nguyễn Việt Hà cũng phủ định máu các thánh tử đạo Việt Nam. Ông nói lại ý của các nhà nghiên cứu thế tục viết về việc phong 117 á thánh tử đạo Việt Nam: “Vài học giả đáng kính chuyên nghiên cứu lịch sử Đảng, viết bài công phu, vạch mặt bọn phản động đội lốt tôn giáo”.

Nhân vật Vũ cũng giống như nhiều người dân lộm nhộm ở các đô thị miền Bắc, ý niệm về tôn giáo lung tung lờ nhờ. Một nỗi sợ không có hình váng vất (tr. 83-85).

“Văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa có nhân vật chính là các ông cha thì không nhiều, nhưng cũng chẳng hiếm. Hầu hết đều tham ăn rượu chè háu gái, nói dối như Cuội” (tr. 185).

Các gia đình Công giáo đổ vỡ từ bên trong. Việc giữ luật đạo, giữ lòng đạo nhiệt thành và tham gia các sinh hoạt tôn giáo đã không còn như truyền thống (Gia đình Vũ, gia đình Bạch).

Bạch đã bỏ hẳn việc xưng tội (tr.188). Bố của Bạch đạp lên cây Thánh giá bộp bộp khi đánh vợ (tr. 160, đd). Điều này chỉ xảy ra thời vua quan phong kiến bắt giáo dân bỏ đạo.

Tác giả bêu riếu nhiều hiện tượng trong sinh hoạt tôn giáo, “Tục hóa” những tín niệm thánh thiêng: trẻ con rước lễ mặc quần rách đít. Cha Lệ lúc nhỏ bị nghi không có chim. Cha sở tiên khởi của xứ Nhạc Giao “ham uống rượu mạnh. Khi luý tuý say, ông chui vào một góc trong phòng thay áo, ông ổng hát thánh ca”. Bạch đặt vần đề tính dục ở những người tu hành: “Cái cách kìm giữ thể xác, cái kiểu vật lộn với mơ mộng dục vọng, rồi sự ăn sự uống. Còn chuyện cụ thể là họ có yêu một người đàn bà nào không thì chỉ Chúa biết” (tr.186)

Đặc biệt là tình trạng “loạn tôn giáo” trong sinh hoạt hàng ngày của người dân. Vợ Vũ đi lễ bà Chúa kho từ 3 giờ sáng, và hầu Đồng đến 12 giờ đêm. Mỗi kỳ giỗ hai cụ, vợ Vũ lập đàn chay, gõ mõ đọc kinh Phật, lầm rầm cúng trước, suốt 3 ngày. Vũ bực mình nói: “Bố mẹ anh thật ra là dân Công giáo, em làm thế coi kỳ dị quá“(tr.87)

Qua nhân vật Vũ, Nguyễn Việt Hà khẳng định tôn giáo đã hoàn toàn bị tha hóa trong bối cảnh xã hội miền Bắc. Dù gia đình Vũ là đạo gốc, dù có chú ruột là Linh mục Đức, dù còn âm thần đi nhà thờ, nhưng hầu như tôn giáo với Vũ chỉ còn lại một chút thói quen. Vũ không có đời sống tâm linh. Nhà văn tô đậm đời sống vật chất dung tục của Vũ. Vũ có vợ nhưng vẫn ngoại tình, tham nhũng, đi đâu cũng chỉ rượu ngon, gái đẹp và tiền. Những băn khoăn của Vũ (nếu có), chỉ là sự trống rỗng sau những hưởng lạc, rượu và gái; và về chính trị, Vũ có vướng víu gia đình đạo gốc. Bởi vì, Vũ là con liệt sĩ, là Đảng viên, được học, được giáo dục để trở thành một người Cộng sản duy vật. Vũ chắc chắn biết, trong tôn giáo thường có mê tín…” (tr. 98).

Không phải vô tình mà Nguyễn Việt Hà trích lời của Ăng-ghen về tôn giáo. Ông còn thêm lời bình khẳng định: “Nếu con bò mà cũng có đức tin, thì Thượng Đế của nó đương nhiên phải có đầu bò’. Ăng-Ghen đã hiểu sâu sắc tôn giáo” (tr. 300).

“Văn là người”. Thái độ diễn ngôn của Nguyễn Việt Hà về Kitô giáo đã rõ. Nói cho đúng, Nguyễn Việt Hà chỉ nói lại (bằng ngôn ngữ tiểu thuyết) ý kiến của người khác.

Ông là nhà văn, không phải là nhà nghiên cứu Sử học. Thế nên những hạn chế về tri thức lịch sử của ông là có thể hiểu được. Ông là người viết văn chợ (văn chương thị trường), nên không tránh được sự non yếu trong việc vận dụng những tri thức triết học để xây dựng nhân vật (như J. P. Sartre, A. Camus chẳng hạn).

Nếu ông muốn dùng quan điểm duy vật để giải thích các hiện tượng tôn giáo thì cần trích dẫn Marx, Lê-nin và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo (đặc biệt trong các văn kiện của Đại hội Đảng lần thứ XIII). Trái lại, ông để cho nhân vật ỡm ờ đặt vấn đề, tung ra các hoài nghi: “chỉ có Chúa biết”, và tục hóa những tín niệm thánh thiêng của Kitô giáo. Những điều như thế làm mất thiện cảm của người đọc, và làm mất giá trị trang văn của ông.

  1. NHỮNG GIÁ TRỊ CŨA KHẢI HUYỀN MUỘN

       

(Nhà văn Nguyễn Việt Hà)

          Khải Huyền Muộn không phải là tác phẩm “văn chương Công giáo” và Nguyễn Việt Hà không phải là “nhà văn Công giáo”. Điều ấy thì đã rõ. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ông viết văn là để thực hiện nhiệm vụ Hội viên của mình, tất nhiên!

  1. Cái gọi là “cách tân nghệ thuật tiểu thuyết” của Nguyễn Việt Hà, hình thức “tiểu

thuyết trong tiểu thuyết”, không có gì mới. Vì viết theo dòng suy nghĩ của nhân vật, trang văn dày đặc chữ. Hư cấu đẻ ra hư cấu, không có cốt truyện, mạch truyện, không có sự phát triển số phận nhân vật theo tuyến thời gian, không gian, như trong cấu trúc tiểu thuyết truyền thống… Khải Huyền Muộn gây khó cho người đọc. Điều ấy có ích gì cho văn chương?

  1. Vì tác giả sử dụng thủ pháp hư cấu kép, tức là bịa chuyện để kể chuyện bịa. Đây là

“nghệ thuật giấu mặt”. Tác giả sẽ không chịu trách nhiệm gì về những gì mình viết. Vậy đâu là trách nhiệm xã hội của nhà văn?

Có rất nhiều “bịa đặt” trong Khải Huyền Muộn không chấp nhận được vì nó trái với nguyên tắc sáng tạo. Nhưng tác giả không chịu trác nhiệm!

Chẳng hạn, qua nhân vật Alexandre de Rhodes, tác giả hoài nghi về đức tin của cha ông, Rhodes đặt vấn đề Kitô giáo gây ra chiến tranh Trịnh-Nguyễn và cuộc tàn sát của Văn Thân (1864); Rhodes cũng dự cảm Pháp xâm lược Việt Nam 200 năm sau khi ông qua đời; và thật buồn cười khi nhà văn để cho Rhodes hỏi Giáo hoàng Gioan-Phalo 2 (thế kỷ XX) về câu trả lời với nhà sư chất vấn ông (tr. 301).

  1. Nguyễn Việt Hà có ý định viết một tác phẩm tư tưởng kiểu như tiểu thuyết Hiện Sinh

(?) khi ông ném vào trang văn đủ mặt các nhà sáng lập tư tưởng: Phật Thích Ca, Khổng Khâu, Giêsu, Ăng-ghen, J. P. Sartre, Camus… Thảm hại thay, những luận giải “tư tưởng” ấy chỉ là những “tạp văn” bát nháo, hình như là để khoe mẽ, những độc giả hiểu biết đọc, chỉ cười nhếch mép. Xin đọc:

“Vũ luôn tự hào và tự tin về cách sống tự cân bằng của mình. Giữa trắng và đen. Giữa trong và ngoài. Đấy là Trung Dung của Khổng Tử hay là Trung Đạo của Đức Phật. Mình đang là Mê hay là Ngộ. Có cái gì đấy không phải, kể cả đến lúc ấy hình như Vũ đã đọc tập bản thảo Thần học của cụ linh mục Đức. Ta ước gì ngươi hoặc nóng hoặc lạnh thì tốt. Nhưng vì ngươi âm ấm – không nóng cũng không lạnh – nên ta sẽ mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. Đấy là nguyên văn lời trong sách Khải Huyền. Rồi Vũ cũng đi. Vũ quyết liệt muốn xem mình là nóng hẳn hay lạnh hẳn. Vũ thuê một thanh niên thổ dân vừa dẫn đường vừa vác hộ đồ. Dẫn đến đâu thì Vũ cũng chỉ mang máng biết. Và hy vọng trong thẳm sâu đại ngàn, hình như có một chỗ đang chờ mình. Minh quân Trần Thái Tông nửa đêm bỏ thành Thăng Long đi vào núi. Trút ngôi vua như trút bỏ chiếc giày rách. Sử gia tử tế của đời sau, đều khen và đều tin. Vũ cũng tin. Tại sao lại không tin…(tr.98, đd)

Ở đoạn văn trên, Nguyễn Việt Hà trang bị cho Vũ thuyết Trung dung của Khồng Tử, con đường Trung đạo của Phật Thích Ca, hiểu biết Thần học Kitô giáo (từ tài liệu của Linh mục Đức, không rõ là gì), chân lý của Kinh Thánh (sách Khải Huyền) và thái độ từ bỏ của vua Trần Thái Tông khi ngài bỏ kinh đô lên núi Yên Tử cầu Phật.

Hiển nhiên là, những “tư tưởng” ấy không thể sống chung với nhau trong đầu Vũ được, không thể làm nên cái mà Nguyễn Việt Hà gọi là “cách sống tự cân bằng” của Vũ.

Làm sao Vũ dùng những “tư tưởng” ấy để “cân bằng” được đời mình? Gia đình Vũ là bổn đạo gốc, Vũ luôn sống trong sợ hãi, vì anh là một cán bộ cao cấp, một đảng viên, được giáo dục chủ nghĩa duy vật? Vũ cặp với Cẩm My, đi đâu cũng rượu ngon, gái đẹp, làm sao “cân bằng” với 10 điều răn Kitô giáo? Vũ đâu có giống với vua Trần Thái Tông từ bỏ tất cả để lên núi Yên Tử cầu đạo, trái lại anh đã mơ thấy công an đã vào cuộc hồ sơ tham nhũng của mình. “Sự cân bằng” của Vũ không phải là sự “giác ngộ triết học”. Nói cho đúng, Vũ tự lừa dối mình, và tác giả dùng Vũ đánh lừa người đọc.

  1. Nguyễn Việt Hà muốn viết một tác phẩm dùng nghệ thuật trào phúng để phê phán hiện thực như kiểu Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, nhưng khoảng cách tư tưởng và nghệ thuật giữa hai tác phẩm Số Đỏ Khải Huyền Muộn là một vực thẳm mà Nguyễn Việt Hà không vượt qua được. Bởi nhà văn không xây dựng được hình tượng nhân vật tư tưởng như Số Đỏ. Có chăng, Khải Huyền Muộn là “cái đuôi” của Bão Biển (Chu Văn) về những chuyện bôi bác tôn giáo, kiểu như trẻ con rước lễ mặc quần rách lòi mông, người Công giáo làm dấu thánh bằng tay phải, vì ngày xưa người ta dùng tay trái để rửa đít (đã dẫn), Linh mục Lệ không chim…
  2. Chỉ phê phán hiện tượng.

Ngày nay, hiện thực đã vượt qua. Thành ra những điều Nguyễn Việt Hà phê phán trở thành những chuyện đùa, rất nhạt (kiểu truyện của Azitnexin, nhưng truyện của Azitnexin là truyện tư tưởng), mua vui được một nửa nụ cười.

Bởi vì thực tiễn rất khác. Để ngăn chặn sự tha hóa đạo đức xã hội do các cuộc xâm lăng văn hóa gây ra, Đảng và Nhà nước đã có những nghị quyết về văn hóa. Nghị quyết Trung ương 5: “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 33/NQ-TW: “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Quả thật Nguyễn Việt Hà đã không nhìn thấy mặt tích cực của hiện thực Việt Nam. Đó là điều đáng tiếc.

  1. Dẫu thế nào, qua Khải Huyền Muộn, Nguyễn Việt Hà cũng bộc lộ cái nhìn méo mó về đức tin của chính mình. Nhà văn phủ định mọi giá trị văn hóa của tôn giáo, phủ định vai trò của tôn giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam. Nhà văn không nhận ra điều này: Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra nhiệm vụ: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”.

Tôi không ngạc nhiên, vì Nguyễn Việt Hà đã viết: “Tôi là người mong manh có đức tin và tôi là nhà văn” (tr. 360). “Tôi viết vì những bức xúc với hiện thực xung quanh. Hầu như tất cả những người viết văn đều không nói mình viết chỉ vì kiếm danh hoặc kiếm lợi…”(tr. 173).

Tháng 9/ 2026

 

______________________________

[1] Phạm Ngọc Tiến: Nguyễn Việt Hà, nhà văn của phố cổ

https://reatimes.vn/nguyen-viet-ha-nha-van-cua-pho-co-202201224000000841.htm

 

Loading

Chưa có đánh giá nào
👁 3 lượt xem
3 lượt xem hôm nay
Đánh giá bài viết

Bài viết liên quan:

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (Chuyên luận) Bùi Công Thuấn *** Để nghiên cứu tác phẩm văn học Công giáo, tôi đề xuất khái niệm “bút pháp hiện thực cứu rỗi”. Khi viết về văn chương Song Nguyễn [[1]], tôi đã dùng khái niệm này. Dù vậy, cần làm rõ những nội hàm có

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

Chuyên luận VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO  Bùi Công Thuấn *** Bạn có thể tải về để đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/c9uq77y4x5x0rqj/Chuyên+luận+Song+Nguyễn-full.rar/file   NỘI DUNG   Phần I: Tổng quan (tr.2) 1.      Đạo Công giáo ở Việt Nam 2.       Những định kiến lịch sử (tr.3)    Phần II: Những vấn đề lý

NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG (Đọc Bồ câu không đưa thư và Cho tôi xin một vè đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh) Bùi Công Thuấn *** BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/rr7dwb918f0ofcj/NGUYỄN+NHẬT+ÁNH+&VĂN+CHƯƠNG+THỊ+TRƯỜNG.pdf/file Ở Việt Nam, cho đến nay, đã hình thành 3 dòng văn học: Văn học cách mạng và kháng chiến,

KHÚC GIAO MÙA – Bùi Công Thuấn

KHÚC GIAO MÙA Bùi Công Thuấn ***   BẠN CÓ THỂ NGHE BÀI VIẾT NÀY TRÊN YOUTUBE: https://youtu.be/3J58lDn8Ex4 Hàng 1: Doãn Quốc Sỹ, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Hàng 2: Lê Lựu,  Nguyễn Xuân Khánh, Oha5m Thiên Thư Hàng 3: Đặng Tiến, Nguyễn Huy Thiệp, Vũ Hạnh  *** Những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam

VĂN HỌC ĐỒNG NAI- CÁC CHUYÊN LUẬN CỦA BÙI CÔNG THUẤN

VĂN HỌC ĐỒNG NAI-CÁC CHUYÊN LUẬN CỦA BÙI CÔNG THUẤN   (Chi Hội Nhà văn Đồng Nai 2026) 1.HOA ĐỎ BÊN SÔNG. LLPB. Nxb HNV. 2014. Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/dwce87axqhgy8vo/5_HOA_%25C4%2590%25E1%25BB%258E_B%25C3%258AN_S%25C3%2594NG_-HNV.pdf/file https://drive.google.com/file/d/14G52cd-V8133ME3YhGD-zt_Vq6MzgLqn/view?usp=drive_link 2.NHÀ VĂN ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb Đồng Nai 2018 Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/m986b3uu5pfb2uj/8_NH%25C3%2580_V%25C4%2582N_%25C4%2590%25E1%25BB%2592NG_NAI-b%25E1%25BA%25A3n_in_2018.rar/file https://www.mediafire.com/file/94uqtv8mu3y87qt/Nha_van_Dong_Nai.pdf/file 3. 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb HNV. 2024 Link để

45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI

GIỚI THIỆU CHUYÊN LUẬN 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI Tác phẩm của Bùi Công Thuấn. Nxb Hội Nhà văn 2024   https://www.youtube.com/watch?v=sPPzmUHoHEo&t=14s BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link Hoặc tải về theo link: https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file

KHÔI VŨ – NGUYỄN THÁI HẢI & HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

KHÔI VŨ - NGUYỄN THÁI HẢI & HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG Chuyên luận của Bùi Công Thuấn BẠN TẢI VỀ ĐỂ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/ytr1eax48n0i19p/00+KHÔI+VŨ-NTH+&+Hành+trình+văn+chương-Official.pdf/file https://drive.google.com/file/d/1Fxc2FGqs5J2pPHIEUMUMeHgGWBn13Qm2/view?usp=drive_link MỤC LỤC I. Tiểu sử - Chuyện đôi bạn. tr.2 II.Khái quát tác phẩm của Khôi Vũ - Nguyễn Thái Hải 1.Tiểu thuyết. tr.10 2.Truyện ngắn. tr.21 3.Truyện Tuổi Hoa. tr. 34 4.Truyện thiếu

NHÀ VĂN KHÔI VŨ – NGUYỄN THÁI HẢI

NHÀ VĂN KHÔI VŨ - NGUYỄN THÁI HẢI Tiểu sử & Tác phẩm Bùi Công Thuấn *** TIỂU SỬ Nhà văn Khôi Vũ tên thật là Nguyễn Thái Hải, quê ở Làng Hới (chiếu), huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Từ năm 1956, gia đình vào sinh sống tại Biên Hòa, Đồng Nai. Khôi Vũ là bút danh nhà văn

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok