NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM

Bùi Công Thuấn

***

Một nền văn học, muốn phát triển, cần phải có những tư tưởng làm nền tảng cho sáng tạo và nghiên cứu. Chẳng hạn, tư tưởng mỹ học, ý thức về sáng tạo văn học, tư tưởng về chức năng, nhiệm vụ cùa văn chương, tư tưởng về vai trò nhà văn trong xã hội… những tư tưởng ấy hình thành một hệ thống những quan điểm lý luận văn học.

Lí luận văn học là một ngành khoa học nghiên cứu bản chất, chức năng xã hội – thẩm mỹ và các quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển văn học. Chẳng hạn, văn chương là gì? Văn chương khác với các loại hình nghệ thuật khác thế nào? Tại sao người ta sáng tác văn chương? Mối quan hệ giữa văn chương và hiện thực. Văn chương có chức năng gì? Văn chương trong tương quan giữa các thành tố văn hóa (ngôn ngữ, tư tưởng, tôn giáo, phong tục tập quán…). Văn bản, liên văn bản và tác phẩm? Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc…

Cho đến nay, câu hỏi “Có một nền văn học Công giáo Việt Nam không?”[[1]] vẫn chưa có câu trả lời. Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng viết:

“…đến nay câu hỏi vẫn để ngỏ, mở ra nhiều chiều, chưa thể đi đến kết luận. Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu tổng quát hoặc chuyên khảo của các tác giả…, một số vấn đề căn cốt của văn học Công giáo, của văn học Công giáo Việt Nam chưa được đặt ra. Chẳng hạn, “tính cách của văn học Công giáo”, “Các khuynh hướng văn học” và “các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Công giáo Việt Nam”. Và quan trọng hơn, chẳng hạn, văn học Công giáo Việt Nam trong một viễn tượng lịch sử; Diện mạo và đời sống văn học Công giáo Việt Nam như thế nào trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam”…([1]đd.tr.50)

Khi nền văn học còn ở trạng thái “tự phát”, thì không thể có một nền lý luận văn học. Phương Tây có nhiều lý thuyết văn học bởi vì họ có nhiều trào lưu. Mỗi trào lưu văn học có ý thức sáng tạo riêng. Đó là chủ nghĩa nhân văn, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa siêu thực…và bây giờ là trào lưu Hậu hiện đại.

Ở Việt Nam, những năm 1930-1945, Tự Lực Văn Đoàn là một “tổ chức” văn học gồm các nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Tú Mỡ và Xuân Diệu. Họ có “tôn chỉ” riêng, có khuynh hướng chính trị riêng. Các nhà văn cùng sáng tác, hoạt động theo tôn chỉ ấy. Tự Lực Văn Đoàn có tờ báo riêng, có nhà xuất bản riêng. Họ cũng trao các giải thưởng văn học. Với những hoạt động ấy, Tự Lực Văn Đoàn  đã có những đóng góp giá trị vào sự phát triển của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Nói cách khác, văn học Công giáo Việt Nam là một nền văn học tự phát, chưa có một nền lý luận văn học riêng. Giáo hội chưa quan tâm đến văn học. Hội đồng Giám mục Việt Nam có các Ủy ban Văn hóa, Ủy ban Thánh nhạc, Ủy ban Nghệ thuật thánh… nhưng không có Ủy ban Văn học.

PHẦN I:

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VĂN HỌC CÔNG GIÁO

***

 I.“VĂN CHƯƠNG AN NAM”

(Domonique Hồ Ngọc Cẩn. Nxb Hong Kong. 1933)[[2]]

Phần “Tiểu dẫn” ghi: (xin trích)

“Vậy học cho biết văn chương cũng là đều cần thiết: có biết văn chương, thì văn bài mới tao nhã, văn bài tao nhã, văn học mới quang minh, cho nên văn chương là như trang sức cho Văn học vậy.

Nội dung sách gồm 3 phần:

Phần Thứ I. Dạy chung mấy đều về văn chương.

Phần Thứ II. Dạy về các thứ Văn bài: Trước thì Tán-văn sau thì Vận-văn.

Phần Thứ III. Dạy về Sử ký Văn chương và gốc tích cùng chữ quấc-âm.

“Quyển Văn-chương nầy đã soạn theo ý kiến Đức Khâm-sứ Tòa-thánh đã hiểu thị ra

trong Chương trình ngày mồng 3 Décembre, năm 1926”

Như vậy, cuốn sách này được biên soạn để dạy “làm văn” cho học trò, từ việc dùng từ, đặt câu, diễn đạt, đến thể loại “Tán văn” và ‘Vận văn”.

***

Câu: “cho nên văn chương là như trang sức cho Văn học vậy” là một sự diễn đạt hàm hổ (thuật ngữ) không xác định nghĩa (học thuật) cho “văn học” và “văn chương”.

(GM Dom. Hồ Ngọc Cẩn)

Hồ Ngọc Cẩn định nghĩa văn chương: (xin trích)

1.“Văn chương là đí gì?

“Văn chương (Littérature) là phép dạy cho biết nói và viết văn bài cho xuôi tiếng trúng luật dễ nghe. Vậy ai biết văn chương thì biết làm văn bài cho có văn hoa lý sự: lại khi coi đến văn bài kẻ khác, thì cũng xét được dở hay thế nào”.

  1. “Văn chương cốt tại ở nơi sự gì?”

“Văn chương cốt tại ở nơi kiểu nói. Hễ biết chọn lựa kiểu nói cho nhằm bài hạp việc, thì mới ra bài có văn chương. Bài dẫu ý tứ nghe thông minh, mà không nhằm theo kiểu nói, thì cũng như của ăn tốt, mà nấu thiếu đồ gia vị.

Vậy nay sẽ dạy ít đều về kiểu nói, rồi thì dạy cách làm một ít thứ bài.”

Những lý giải trên của Hồ Ngọc Cẩn chưa chạm đến những vấn đề căn cốt của lý luận văn học. Cuốn sách “Văn chương An Nam” là một dạng giáo khoa dùng để dạy “thực hành làm văn” cho học trò, không phải là sách nghiên cứu lý luận văn học.

***

  1. “LỊCH SỬ VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM”

(Võ Long Tê. Nxb Tư Duy, Sài gòn. 1965 [[3]]

Tác giả cho biết:

“Toàn bộ gồm 3 cuốn, mỗi cuốn riêng về một thời kỳ của văn học Công giáo Việt Nam:

– Cuốn I: từ khởi thủy đến giữa thế kỷ XVII.

– Cuốn II: từ giữa thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX.

– Cuốn III: từ giữa thế kỷ XIX đến hiện đại.

Tác giả mới chỉ xuất bản cuốn I.

Nội dung cuốn I như sau:

Chương 1: Hiện tình nghiên cứu văn học Công giáo

Chương  2: Thế nào là văn học Công giáo. (tr.25)

Chương  3: Có một nền văn học Công giáo Việt Nam. (tr.34)

Chương  4: Quốc tịch các tác phẩm và tác giả (tr.54)

Chương  5: Phân định thời kỳ văn học

Kết thúc:  “Kết luận về thời kỳ thứ nhất”

Là một cuốn “Lịch sử văn học”, tác giả dành hẳn chương 2: “Thế nào là văn học Công giáo” (tr. 25) và chương 3: “Có một nền văn học Công giáo Việt Nam” (tr. 34) để giải trình một vài vấn đề có tính lý luận.

Đó là các vấn đề: Văn học là gì? Tính cách của văn học Công giáo, nhiệm vụ của người viết văn Công giáo, văn học Công giáo và văn học dân tộc (xin trích):

  1. Về từ “văn học”

“Trong danh từ ‘văn học’ có hai phần: ‘văn’ gợi ý phần nội dung và hình thức của sáng

tác văn học; ‘học’ biểu thị phần suy nghĩ nghiên cứu về những sáng tác văn học” (tr.26)

“…Văn học là những tác phẩm sáng tác nhằm mục đích phát huy cái đẹp bằng ngôn ngữ

văn tự.” Văn học có nhiều môn như Lý luận văn học, Phê bình văn học, và Lịch sử văn học.”

  1. Tính cách Công giáo văn học (tr.28)

“Đối tượng của văn học Công giáo:

Thứ nhất là Lời Chúa trình bày trong Cựu Ước và Tân Ước.

Thứ hai là tác phẩm nhằm mục đích làm sáng tỏ Lời Chúa do các giáo sĩ, tu sĩ tín hữu sùng đạo sáng tác…Đây là những tác phẩm theo chủ trương “Nghệ thuật vị đạo đức”.

Thứ ba là những tác phẩm “vừa nghệ thuật vừa đạo đức”

Thí dụ (tr.29): Plaisier Pascal (tư tưởng), Paul Claudel (Kịch), Mauriac (nói đến tội lỗi)

Bernanos (nói đến ân sủng), Péguy (nói đến bản chất nhập thể), La Rochefoucauld (cách ngôn), Racine: (bi kịch), Baudelaire: tác phẩm Les Fleurs du Mal (Ác hoa).

“Có nhà văn không theo đạo Công giáo nhưng đặt ra những vấn đề căn bản của đạo Công giáo như sự sa đọa và sự cứu chuộc, sự trừng phạt và sự cứu rỗi: Camus, Sartre, Julien Green… Các tác giả đã suy nghiệm về đạo Công giáo nhưng đã giải quyết vấn đề theo một viễn tượng đối nghịch với đạo Công giáo.

Những tác phẩm như thế có công dụng kích động lương tâm người Công giáo và đòi hỏi người Công giáo phải nỗ lực hành động và cầu nguyện để kêu gọi những đứa con hoang đàng và tiếp đón những con chiên lạc bầy trở về”.

  1. “Tương quan giữa văn học và đức tin” (tr.31)

“Là giáo hữu, nhà văn có sứ mạng truyền bá đức tin. Là nghệ sĩ, nhà văn phải sáng tác theo ý thức nghệ thuật”.

“Văn học Công giáo chính là những công trình của người Công giáo nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ văn tự để thể hiện lối sống đạo của mình. Sự thể hiện này nói lên ý thức nghệ thuật và đời sống đức tin của tác giả”.(tr.33)

  1. “Có một nền văn học Công giáo Việt Nam”(tr. 34)

            “Tiếng nói của văn học vừa biểu lộ tâm tư của một người vừa diễn đạt tâm tư của số đông. Yếu tính của tác phẩm văn học là đáp ứng yêu cầu nghệ thuật của tác giả, nhưng công dụng của tác phẩm văn học là phổ biến trong giới độc giả đông đảo những gì họ chờ đợi mong muốn.

Với nhận định ấy, chúng tôi nghĩ rằng những tác phẩm văn học Công giáo Việt Nam không phải chỉ liên hệ đến những tín đồ Công giáo mà còn liên hệ đến đời sống chung của dân tộc.”.(tr.34)

“Với sứ mạng thánh hóa, tính chất dân tộc, khả năng dung hợp, nền văn học Công giáo Việt Nam có một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học của dân tộc”.(tr.35)

(Võ Long Tê)

***

Những vấn đề Võ Long Tê đặt ra có ý nghĩa để nghiên cứu. Dựa trên kinh nghiệm quan sát của cá nhân, ông đưa ra những nhận định, rất tự tin. Có điều, nhiều nhận định của ông có tính chủ quan, võ đoán và về nhận thức thì phi logic. Thành ra, khi đi vào nghiên cứu văn học Công giáo, ông lan man không xác lập những giới hạn cần thiết.  Thi1` dụ, ông bàn rất dài về “Công cuộc sáng chế chữ quốc ngữ” (tr.184-208), hoặc ông nói về “Tác phẩm quốc sử và giáo sử ngoại ngữ” (tr.259-279)…Công trình của ông, vì thế, có giá trị như một nghiên cứu tổng hợp văn hóa.

Thí dụ, ông “lý luận”: “Có nhà văn không theo đạo Công giáo… như Camus, Sartre, Julien Green… Các tác giả đã giải quyết vấn đề theo một viễn tượng đối nghịch với đạo Công giáo.”(đã dẫn).

Đó là một “lý luận” có thể làm người đọc buồn cười! Người viết văn “không theo đạo Công giáo”, lại giải quyết vấn đề theo cách “đối nghịch với đạo Công giáo”, vậy mà vẫn được coi là văn học Công giáo? Thật không hiểu nổi! Có ai gọi những tiểu thuyết sau đây là văn học Công giáo không? Tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris của V. Hugo, Những con chim ẩn mình chờ chết (The Thorn Birds) của Colleen McCullough; Mật mã Da Vinci (The Da Vinci Code) của Dan Brown, Một linh hồn của Thụy An?

Rõ ràng là, ông không xác lập được thế nào là tác phẩm văn học Công giáo, thế nào là nhà văn Công giáo. Nội dung văn học Công giáo viết về hiện thực gì? Nhân vật của văn học Công giáo là ai? Chủ đề, tư tưởng mỹ học Kitô giáo là gì? Và văn học Công giáo có chức năng xã hội gì?

Thế nên ông mới đưa người viết văn “không theo đạo Công giáo”, giải quyết vấn đề “theo cách đối nghịch với đạo Công giáo”vào công trình của mình.

***

III. “VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG”

(Lê Đình Bảng. Nxb Từ điển Bách Khoa. Hà Nội. 2010[[4]]

            Trong lời Vào Đề giới thiệu cuốn sách “Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường”, Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh, Gp Kontum đặt vấn đề:

“…Đến những thập kỷ gần đây, thư mục Công giáo đầy đặn và bề thế hơn với rất nhiều công trình nghiên cứu, biên khảo chuyên sâu, với kỹ thuật in ấn hiện đại về Kinh Thánh, Phụng vụ, Giáo lý, tu đức, Thần học, Triết học, thánh nhạc, thi ca…

Ấy thế mà không hiểu sao văn học Công giáo Việt Nam cứ xa lạ, vắng bóng trong các tư liệu, sách báo ở bên ngoài xã hội? Có chăng chỉ đôi ba hàng phác thảo rất chung chung, mờ nhạt thoáng thấy trong công trình của Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, Phạm Văn Diêu, Nghiêm Toản, Vũ Ngọc Phan, Phạm Thế Ngũ…Ngay đến tác phẩm do người Công giáo biên soạn cũng chỉ thấy tản mạn, phớt qua chưa tích hợp đầy đủ và cập nhật những số liệu và thông tin cần thiết giúp người đọc có một cái nhìn trọn vẹn: Nguyễn Hồng, Phan Phát Huồn, Bùi Đức Sinh, Nguyễn Thế Thoại, Phạm Đình Khiêm, Cao Thế Dung…”

Nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng cũng trăn trở nhiều vấn đề:

“Có văn học Công giáo Việt Nam không?”(tr. 48)

… “Đến nay câu hỏi vẫn để ngỏ, mở ra nhiều chiều, chưa thể đi đến kết luận. Tóm lại, qua các công trình nghiên cứu tổng quát hoặc chuyên khảo của các tác giả trên, một số vấn đề căn cốt của văn học Công giáo, của văn học Công giáo Việt Nam chưa được đặt ra. Chẳng hạn, “tính cách của văn học Công giáo”, “Các khuynh hướng văn học” và “các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Công giáo Việt Nam”. Và quan trọng hơn, chẳng hạn, văn học Công giáo Việt Nam trong một viễn tượng lịch sử; Diện mạo và đời sống văn học Công giáo Việt Nam như thế nào trong dòng chảy chung của văn học Việt Nam”…(tr.50)

“Chẳng rõ là định kiến, là ngộ nhận hay thận trọng? Giới nghiên cứu nói chung vẫn có cảm tưởng, hình như văn học Công giáo Việt Nam là một “thế giới đóng kín”, thuộc về “một cõi riêng tư” nào đó “biệt lập, âm thầm”, khó thâm nhập” (tr.50)

Tiêu chí nào để xác định tác giả tác phẩm văn học Công giáo?

“… Có những tác phẩm rõ ràng do người Công giáo sáng tác, biên soạn, nhưng “nội dung chẳng nói gì về Chúa, về đạo”mà thuần là những chuyện văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Đông Tây, kim cổ. Nguyễn Trường Tộ, Pétrus Ký, Huỳnh Tịnh Của và Mai Lạo Bạng, Nguyễn Văn Mại chẳng hạn. Có nên trải thảm thỉnh mời các bậc danh nhân văn hóa, nhân sĩ các mạng ấy vào trong tòa nhà văn học Công giáo Việt Nam không? Ở đây nên nhân danh tiêu chí nào, là con người Công giáo hay tác phẩm có nội dung Công giáo?”(tr.51)

Sáng tác có nội dung Công giáo thì nhiều nhưng đâu là tác phẩm văn học Công giáo có giá trị?

“Trong khi đó, có vô số tác giả tự nhận là Kitô hữu, bởi tác phẩm của họ đầy dẫy những từ ngữ, hình ảnh Chúa, Đức Mẹ, nhà thờ, nhà chung y hệt kiểu cách nói năng kinh sách của người đạo gốc đạo dòng. Nhưng tư tưởng và nghệ thuật thì hời hợt, tầm thường. Thiết tưởng đây là chuyện cần phải được xem xét thật nghiêm túc, kỹ lưỡng hơn. Bằng không, diện mạo và đời sống văn học nhà đạo sẽ chẳng có gì khởi sắc, sẽ buồn tẻ vô cùng, không đáng gọi là văn học”(tr.51).

Phải nhìn nhận thế nào về tác phẩm của tác giả ngoài Công Giáo?

“… Chúng ta nghĩ gì về các tác phẩm phản ánh sâu sắc nội dung mạc khải Công giáo, đồng thời đạt giá trị nghệ thuật, mặc dù tác giả không phải là người Công giáo? Đó là các trường hợp: Tuồng Joseph của Trương Minh  Ký (1888), Văn tế Đức cha Allys, Mừng lễ Giáng sinh của Phan Bội Châu trên tờ báo Tiếng Dân (1936), của nhà văn Lê Văn Trương đăng trên nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (7-1956)…”

“… Và còn nhiều, rất nhiều tác giả, tác phẩm thuộc các lĩnh vực thi ca, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, cảm hứng từ Kinh Thánh, thần tích, hoặc từ đời sống thực tế đức tin của người Công giáo. Chúng tôi không dám bao biện, vơ vào.”(tr.52).

***

Qua những ý kiến trên, Lê Đình Bảng đã nhìn ra nhiều vấn đề của lý luận văn học Công giáo Việt Nam, song ông chưa đưa ra kiến giải. Đó là:

  1. Có văn học Công giáo Việt Nam không?- Câu hỏi vẫn để ngỏ.
  2. Để xác lập văn học Công giáo Việt Nam, nhà nghiên cứu phải dựa vào tiêu chí nào, con người Công giáo hay tác phẩm có nội dung Công giáo?
  3. Tại sao đến nay, văn học Công giáo Việt Nam là một “thế giới đóng kín”, thuộc về “một cõi riêng tư” nào đó, không hội nhập được với văn học dân tộc, không được các nhà nghiên cứu thế tục quan tâm?
  4. Có vô số tác giả tự nhận là Kitô hữu. Tác phẩm của họ đầy dẫy những từ ngữ, hình ảnh Chúa, Đức Mẹ, nhà thờ, nhà chung… Nhưng tư tưởng và nghệ thuật thì hời hợt tầm thường không đáng gọi là văn học”.(tr.51)
  5. Chúng ta nghĩ gì về các tác phẩm phản ánh sâu sắc nội dung mạc khải Công giáo, đồng thời đạt giá trị nghệ thuật, mặc dù tác giả không phải là người Công giáo?
  6. Có nên đưa vào “văn học Công giáo” rất nhiều tác giả, tác phẩm thuộc các lĩnh vực thi ca, âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, cảm hứng từ Kinh Thánh, thần tích, hoặc từ đời sống thực tế đức tin của người Công giáo”(52).

Đặt vấn đề là vậy, nhưng trong công trình nghiên cứu của mình, Lê Đình Bảng vẫn “vơ

vào” tất cả tác giả, tác phẩm ở lĩnh vực khác có nội dung Công giáo, mà không phân biệt được thế nào là “tác phẩm văn học Công giáo”, khác biệt với ấn phẩm“văn hóa phẩm Công giáo”.

Xin đọc:

Chương 4: Chặng đường đơm hoa kết trái (thế kỷ XX) (tr. 235).

  1. Thánh kinh – Phúc âm diễn giải (tr.249).
  2. Phụng vụ. Giáo lý. Kinh nguyện. Tu đức (tr.261).
  3. Thần học. Triết học (tr.267).

4.Văn kiện. Thư chung. Thư luân lưu. Thông cáo (tr.281).

  1. Giáo sử. Niên giám. Kỷ yếu. Lịch Công giáo (tr.288).
  2. Tự điển. Từ điển. Ngôn ngữ. Biên khảo văn học. Nghệ thuật. Báo chí (tr.300).

7.Truyện. Ca vãn. Thơ. Tuồng kịch. Thánh nhạc (tr.314)

.

***

  1. “SƠ THẢO VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM”

(Nguyễn Vy Khanh. Nguyễn Publishing, Toronto. 2023)[[5]]

NỘI DUNG SÁCH

Dẫn nhập

I- Tổng-quan

Vài nét tổng quan – Ngược dòng thời gian – Những dòng văn-học Công-giáo – Vài nét riêng của văn thơ Công giáo.

II- Từ thế kỷ XVII đến 1865: những bước tiên phong

-Lm. Lữ-Y Đoan (1613-1678), Inê tử đạo vãn (1838),Phép Giảng Tám Ngày          

Bento Thiệ n, Lm. Philiphê Bỉnh (1759-1833), Lm. Philiphê Phan Văn Minh (1815-1853)            Lm. Đặng Đức Tuấn (1806 – 1874)

III- Từ 1865 đến 1954: văn học chữ quốc ngữ từ những bước đầu đến hiện-đại

            (Giới thiệu các tác giả) 

Phạm Trạch Thiện (1818-1903) – Lm. Trần Lục (1825-1899) – Trương Vĩnh Ký (1837-1898) – Huình Tịnh Paulus Của (1830-1908) – G.M. Hồ Ngọc Cẩn – Lm. Nguyễn Văn Thích (1891-1978) – Hàn Mạc Tử (1912-1940) – Lm. Lê Thiện Bá – Hồ Dzếnh.

Văn xuôi                                                      

Nguyễn Trọng Quản (1865-1911) – Charles Ngọc Minh – Jacques Lê Văn Đức (1887-1947) – Hy Chính – Nguyễn Văn Hưng Thạnh – Cung Giũ Nguyên (1909-2008) – Nguyên Hồng – Thuỵ An Hoàng Dân (1916–1989)

IV- Thời 1954 đến 1975 trong Nam: tự do và khai phóng

Thi-ca. Văn xuôi. Học thuật, tư tưởng. Nhà in sách báo Công giáo. Báo-chí Công-giáo. Các ấn bản Kinh Thánh. Sơ kết.

V- Văn học Công giáo Việt Nam sau năm 1975.

    Trong nước sau 1975: từ ốc đảo đến hội nhập

Báo chí. Sinh hoạt văn học. Các công trình sưu tập, tuyển chọn. Các Hội thảo và giải Văn học

VI- Văn-học Công-giáo Việt-Nam ở ngoài nước: những bước lưu vong và về nguồn   

Sinh hoạt và Nội dung của Văn học Công giáo Hải ngoại: (giới thiệu các tác giả theo 13 chủ đề)

1- Quá khứ. 2- Lưu Vong, lưu đày. 3- Thuyền nhân và tị nạn. 4- Kẻ Lạ. 5- Cái Chết. 6- Hội nhập: 7- Sống đạo và tâm linh. 8- Hồi ký . 9- Truyện và tiểu thuyết lịch sử. 10- Sinh hoạt Văn hóa, Văn học, Biên khảo.  11- Hiện đại, liên mạng, các trang mạng Internet . 12- Trẻ: cách tân hoặc truyền thống? 13- Sinh hoạt báo chí và xuất bản.

Sơ kết toàn biên khảo.

NHỮNG NHẬN ĐỊNH CỦA NGUYỄN VY KHANH CÓ Ý NGHĨA LÝ LUẬN VĂN HỌC

(Xin trích nguyên văn)

Phần Dẫn nhập

“Hơn nữa, các văn bản và tác phẩm mà chúng tôi đề cập, phân tích, mang tính văn học / văn học sử và một số đã không nhất thiết phải mang tính sáng tạo văn chương nghệ thuật. Với chúng tôi, văn bản quan trọng và đích thực hơn là tiểu sử bao nhiêu phần trăm Công-giáo”.

“… Trong các tác phẩm chúng tôi đề cập đến, đức tin Công giáo được thể hiện như nền tảng văn hóa, văn chương cũng như sáng tạo nghệ thuật, ở mặt nổi hoặc trong chiều sâu thẳm căn cốt, tinh túy.”

“… Chúng tôi thiển nghĩ có thể nói đến các đề tài, các thể loại hình thức, nội dung và một số nguyên lý (cứu cánh) của văn học Công giáo (tr.12)

“Văn học Công giáo với những nhân vật nhà tu và ngôn ngữ của nhà Chung do đó có thể đã bị tưởng là chuyện nhà đạo. Tiếng Việt bị gán là tiếng “nhà thờ” đó thực ra là tiếng Việt của thời đó – Truyện Thầy Lazarô Phiền đã là bằng chứng cụ thể nhất!”(tr.16)

Văn học Công giáo Việt Nam theo thiển ý thường gồm có hai loại tác phẩm:

1– “Sách đạo” gồm các tác phẩm giáo lý, tu đức, kinh sách về đạo Chúa và

2- “Văn học đạo” tức tác phẩm văn chương và học thuật có nội dung “tải đạo” hoặc chịu ảnh hưởng Công giáo – hoặc nói khác đi, một hình thức “hội nhập văn hóa” của đức tin.

Các tác giả gồm các vị tu sĩ, các nhà thần học và các nhà nghiên cứu, các nhà văn thơ Công giáo sống đời thường, giáo dân hoặc người ngoài Công giáo. Nói cách khác, tác phẩm của văn học Công giáo có tính văn chương/văn học đồng thời có “chất đạo”:

Nhà văn Công giáo do đó hoặc sáng tác, hoặc làm nên một tác phẩm Công giáo (Kinh nguyện, Vãn, Gẫm, …) tuân theo giáo lý, tư tưởng thần học, mỹ học – những suy niệm, chia sẻ về đức tin, về sống đạo, với mục đích rao giảng Tin Mừng, hoặc sử dụng các thể loại văn chương (Truyện, Tuồng, Thơ, Bút ký – cả âm nhạc,…) như một đối thoại hoặc lời kinh lời thơ có nội dung nhà Đạo, dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân.

Biên giới Đạo và Văn nhiều khi không dễ phân định và hai bên lấn nhập thường xuyên

“…để kết luận rằng có một nền “Văn học Công-giáo Việt-Nam” trong lòng dân tộc Việt và đạo Chúa! Văn học Công-giáo chữ quốc-ngữ cũng đã mở đường và góp phần hiện-đại hóa văn học Việt nói chung về thể-loại văn chương và nội dung nhân bản, dân tộc cùng làm nên một tổng hợp tư tưởng nghệ thuật mới!”

***

Có thể hội tụ nhận định của Nguyễn Vy Khanh vào những vấn đề chính sau đây:

  1. Các tác giả gồm các vị tu sĩ, các nhà thần học và các nhà nghiên cứu, các nhà văn, thơ Công giáo sống đời thường, giáo dân hoặc người ngoài Công giáo.

2.“Nhà văn Công giáo dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân”.

  1. “Trong các tác phẩm …, đức tin Công giáo được thể hiện như nền tảng văn hóa, văn chương cũng như sáng tạo nghệ thuật,…”
  2. “Các văn bản và tác phẩm được đề cập, mang tính văn học/văn học sử và một số đã không nhất thiết phải mang tính sáng tạo văn chương nghệ thuật”.

CHIA SẺ

1.Việc chọn đưa vào “Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam” các tác giả là “người ngoài Công giáo” và các tác phẩm “không nhất thiết phải mang tính sáng tạo văn chương nghệ thuật” sẽ làm lệch nội dung “văn học Công giáo”.

Bởi, một người ngoài Công giáo có thể viết về Công giáo rất sâu (thí dụ các Giáo sư, Tiến sĩ ở Viện Tôn giáo), nhưng họ đâu có đức tin? Nguyễn Vy Khanh có tự mâu thuẫn chăng?  Ông khẳng định: “Nhà văn Công giáo dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân”; và, “Trong các tác phẩm …, đức tin Công giáo được thể hiện như nền tảng văn hóa, văn chương cũng như sáng tạo nghệ thuật,…”

Và, một tác phẩm không phải là “sáng tạo văn chương nghệ thuật”, thì đó không phải là “tác phẩm văn học”. Có chăng chỉ là văn hóa phẩm. Vấn đề là, cần lý luận xác định thế nào là “tác phẩm văn học”; cần lý luận xác lập yếu tính Công giáo trong “tác phẩm văn học Công giáo, và “nhà văn Công giáo” từ đó có thể nói về một “nền văn học Công giáo Việt Nam”. Những điều này, trong “Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam”, Nguyễn Vy Khanh chưa có câu trả lời thuyết phục.

Nghĩa là, ông hoàn toàn không dựa vào bất cứ lý thuyết văn học nào, mà chỉ căn cứ vào trải nghiệm (nghiên cứu cá nhân) để đưa ra những nhận định, những “quan điểm” riêng, làm “phương pháp luận” để viết công trình. Và vì thế, nội dung công trình nghiên cứu của ông có giá trị tư liệu nhiều hơn giá trị lý luận.

Ấy là chưa kể thiên kiến chính trị góp phần làm lệch những nhận định của ông về văn học Công giáo, đặc biệt là trong việc chọn đưa vào công trình các tác giả “nhà văn Công giáo”.

Xin đọc: (Nhan đề các phần IV và V của công trình)

IV- Thời 1954 đến 1975 trong Nam: tự do và khai phóng

V- Văn học Công giáo Việt Nam sau năm 1975. Trong nước sau 1975: từ ốc đảo đến hội nhập.

Ai cũng biết, văn học Việt Nam, và văn học Công giáo Việt Nam ở trong nước là cái gốc, là cái nôi, là một bộ phận bền vững của văn hóa Việt. Riêng văn học Công giáo đã có một lịch sử gần 400 năm, gắn liền với sự phát triển đạo Công giáo, và là kết tinh đặc sắc của văn học dân tộc. Sự phát triển văn học và những cách tân tư tưởng và nghệ thuật đều từ các nhà văn ở trong nước. Văn học Công giáo Việt Nam ở trong nước, từ khởi thủy đến nay, gắn bó với dân tộc này, đất nước này, góp phần làm giàu có văn học Việt, văn hóa Việt. Đó là cội nguồn có nhiều tầng vỉa, bề thế, và nhiều triển vọng phát triển. “Văn học Công giáo Việt Nam sau năm 1975. Trong nước không thể là “ốc đảo” như nhận thức rất cảm tính và thiên kiến của Nguyễn Vy Khanh!

***

PHẦN II: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 

  1. Có một khát vọng

Các nhà nghiên cứu văn học Công giáo Việt Nam đều có chung một khát vọng cháy

bỏng, đó là bằng công trình của mình, khẳng định có một nền văn học Công giáo và nền văn học ấy xứng đáng đứng trong lịch sử văn học dân tộc

Để thực hiện khát vọng này, các nhà nghiên cứu đã tổng hợp trong công trình của mình rất nhiều tác giả, tác phẩm, kể cả tác phẩm “không phải là sáng tạo văn chương nghệ thuật” của “người ngoài Công giáo”.

Tôi nghĩ mục đích và cách làm đó thất bại.

Thí dụ, trong Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam, Nguyễn Vy Khanh đã nói đến hơn 210 tác giả (có người được nhắc lại nhiều lần trong các nội dung khác nhau), gồm đủ mọi thành phần xã hội, trong đó có những cây bút lẽ ra không nên đưa vào “nhà văn Công giáo”.

Dù văn học Công giáo có nhiều tác giả tác phẩm như vậy, nhưng thực tế là:

GM Micae Hoàng Đức Oanh, GP Kontum nhận xét: “Ấy thế mà không hiểu sao văn học Công giáo Việt Nam cứ xa lạ, vắng bóng trong các tư liệu, sách báo ở bên ngoài xã hội? Có chăng chỉ đôi ba hàng phác thảo rất chung chung, mờ nhạt thoáng thấy trong công trình…”(đd)

Lê Đình Bảng đã trưng ra bằng chứng là: “Chẳng rõ là định kiến, là ngộ nhận hay thận trọng? Giới nghiên cứu nói chung vẫn có cảm tưởng, hình như văn học Công giáo Việt Nam là một “thế giới đóng kín”, thuộc về “một cõi riêng tư” nào đó “biệt lập, âm thầm”, khó thâm nhập” (tr.50)

Một thí dụ khác.

Võ Long Tê khẳng định: “Với sứ mạng thánh hóa, tính chất dân tộc, khả năng dung hợp, nền văn học Công giáo Việt Nam có một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học của dân tộc”.(tr.35).

Người đọc sẽ hỏi, văn học Công giáo thánh hóa điều gì trong tâm thức dân tộc này? Chẳng lẽ dân tộc này đầy tội lỗi, vì thế cần văn học Công giáo thánh hóa? Văn học Công giáo mang tư tưởng phương Tây, vậy tư tưởng này gắn bó thế nào với hồn cốt dân tộc, hay người Công giáo luôn hướng về Vatican như quê hương thật của mình? Và, văn học Công giáo dung hợp những giá trị gì trong văn hóa dân tộc, khi đời sống tâm linh của dân tộc này hướng theo Phật, Nho, Lão. Và, tín ngưỡng của dân tộc này là đạo thờ Trời, đạo Hiếu với rất nhiều lễ hội tôn vinh các vị thần là các anh hùng dân tộc đã được thần hóa? Cứ đọc chương “Đạo Vạy” trong “Phép giảng tám ngày” của Alexandre de Rhodes thì sẽ rõ cái mà Võ Long Tê gọi là “văn học Công giáo với sứ mạng thánh hóa”.

Sự thật là, người đọc không tìm thấy tác phẩm văn học Công giáo nào có tầm vóc tư tưởng, nghệ thuật như Bình Ngô đại cáo. Không nhà văn Công giáo nào sánh ngang với Nguyễn Du về tư tưởng, tài năng và ảnh hưởng văn hóa. Và không tác phẩm văn học Công giáo nào được nhân dân yêu mến chuyển hóa thành văn học dân gian, lưu truyền khắp miền Nam bộ như “nói thơ Lục Vân Tiên”…

Vậy “nền văn học Công giáo Việt Nam có một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học của dân tộc”, địa vị ấy ở đâu?

Văn học dân tộc có hai dòng chính là văn học yêu nước chống ngoại xâm (thí dụ: Sông núi nước Nam, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc…) và văn học nhân đạo chủ nghĩa (thơ Nguyễn Du…, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Ngô Tất Tố, Nam Cao…).

Trái lại, “nhà văn  Công giáo… dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân”(Nguyễn Vy Khanh. đd). “Văn học Công giáo chính là những công trình của người Công giáo nhằm mục đích vận dụng ngôn ngữ văn tự để thể hiện lối sống đạo của mình.”(Võ Long Tê.đd). Vậy, văn học Công giáo đứng ở đâu trong lịch sử văn học dân tộc?

Rõ ràng cách tiếp cận như thế không đúng với sự phát triển của văn học Công giáo trong  lịch sử văn học dân tộc.

  1. Sự thiếu vắng lý luận văn học

Các công trình nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo (đã giới thiệu ở trên) đều không

được viết dưới ánh sáng của các lý thuyết văn học. Các tác giả tự đặt ra “tiêu chí” làm “phương pháp luận”, từ đó, chọn lựa, phân tích, đánh giá tác giả, tác phẩm. Rồi căn cứ vào kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra kết luận khái quát.

Vì thế, nhiều khi những nhận định ấy không tránh khỏi sự võ đoán, chủ quan, cảm tính,

và thiếu thuyết phục. Chẳng hạn, độ vênh số lượng tác giả, tác phẩm văn học Công giáo trong các công trình, và sự thiếu thống nhất quan điểm giữa các nhà nghiên cứu, buộc người đọc phải hoài nghi tính chân lý (khoa học) của việc nghiên cứu.

GM Dom. Nguyễn Bá Tòng nhận định: “cho nên văn chương là như trang sức cho Văn học vậy”(đd). Đây là nhận thức về văn học vào năm 1933. Ngày nay người đọc phổ thông nào cũng có thể phân biệt được nội hàm khác biệt giữa các thuật ngữ “văn chương” và “văn học”.

Võ Long Tê luận chứng: “Có nhà văn không theo đạo Công giáo nhưng đặt ra những vấn đề căn bản của đạo Công giáo như sự sa đọa và sự cứu chuộc, sự trừng phạt và sự cứu rỗi: Camus, Sartre, Julien Green… Các tác giả đã suy nghiệm về đạo Công giáo nhưng đã giải quyết vấn đề theo một viễn tượng đối nghịch với đạo Công giáo. Những tác phẩm như thế có công dụng kích động lương tâm người Công giáo và đòi hỏi người Công giáo phải nỗ lực hành động và cầu nguyện để kêu gọi những đứa con hoang đàng và tiếp đón những con chiên lạc bầy trở về”.”(đd)

Lập luận như thế là cách “nói lấy được”, không dựa trên bất cứ nền tảng lý luận văn học nào. Tác giả không đưa ra được lời dạy nào của Đức Giêsu và của Hội thánh làm nền cho lập luận của mình, cũng không trưng dẫn được lời nào của cổ nhân nói một vấn đề như thế, và không viện dẫn bất cứ lý thuyết văn học hiện đại nào (lưu ý rằng, GS Nguyễn Văn Trung viết Lược khảo văn học năm 1963, đã giới thiệu các lý thuyết phê bình văn học).

Chúng ta hiểu tại sao Giáo hội có lúc đã cấm tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris (Notre-Dame de Paris. 1831) của Victor Hugo? Cấm Cơn cám dỗ cuối cùng (Eleftaíos Peirasmós. 1955) của Nikos Kazantzakis, cảnh giác những tác phẩm như Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCullough và Mật mã Da Vinci của Dan Brown? Và, tại sao Võ Long Tê lại không ca ngợi cuốn sách Tây Dương Gia Tô bí lục (tác giả: Phạm Ngộ Hiên, Nguyễn Hòa Đường, Nguyễn Văn Hoằng (Bá Am), Trần Đức Đạt (Trịnh Hiên) biên soạn, bằng chữ Hán, in năm 1812)?[[6]]. Bởi vì, tư tưởng, diễn ngôn và sự miêu tả hiện thực Công giáo của những tác phẩm này trái ngược với đức tin Kitô giáo.

Một thí dụ khác: các nhà nghiên cứu, kể từ Vũ Ngọc Phan, đều coi tiểu thuyết Một Linh hồn của Thụy An là tác phẩm “văn học Công giáo” và xếp Thụy An vào “nhà văn Công giáo”. Thậm chí còn dành cho tác giả này không ít lời tụng ca.

Đây là một ngộ nhận vì thiếu lý luận văn học.

Nhà văn Thụy An (1916-1989) là một người Công giáo viết văn. Bà ly thân với chồng năm 1949, và là tình nhân của Đỗ Đình Đạo (bà chia tay ông Đạo năm 1952). Năm 1958, bà bị bắt trong vụ án Nhân văn Giai Phẩm, bị kết án 15 năm. Năm 1973, bà được thả, sau đó vào Sài Gòn. Năm 1987, bà quy y ở chùa Quảng Hương Già Lam, pháp danh: Nguyên Quy.

Tiểu thuyết Một linh hồn in năm 1941. Đây là một chuyện tình, kiểu “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, thuộc dòng “văn chợ” (văn chương thị trường). Cuốn này không sánh được với tiểu thuyết tình cảm của Tự Lực Văn Đoàn. Chỉ khác ở chỗ, tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên (1933) của Khái Hưng lấy bối cảnh chùa chiền thì Thụy An lấy bối cảnh Công giáo (nhà thờ, Linh mục, cầu nguyện), nhưng những gì Thụy An miêu tả và thể hiện trong diễn ngôn hoàn toàn trái ngược với đức tin Kitộ giáo[[7]]. Tôi liên tưởng đến Victor Hugo và tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris. Hugo có rửa tội, nhưng khi được hỏi về việc có theo đạo Công giáo vào năm 1872, ông đã trả lời rõ ràng: “Không. Tư tưởng tự do“(wiki).

Thụy An đã bỏ đạo, quy y theo Phật, đã viết tác phẩm đi ngược với đức tin Kitô giáo, vậy Thuy An đã “loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân” (Nguyễn Vy Khanh, đd), và “vận dụng ngôn ngữ văn tự để thể hiện lối sống đạo của mình”(Võ Long Tê, đd) như thế nào?

Rõ ràng là, các nhà nghiên cứu đã mâu thuẫn với chính những quan điểm có tính “phương pháp luận” của mình vì thiếu cơ sở lý luận văn học.

  1. “Vơ bèo vạt tép” tất cả.

`     “Vơ vào” là chữ của Lê Đình Bảng. Ông cho biết, hầu như các công trình “Lịch sử văn học Công giáo”  đều đưa vào  mọi thứ “văn bản” có nội dung đạo Chúa, kể cả tác phẩm “không phải là sáng tạo văn chương nghệ thuật” của “người ngoài Công giáo”.

Tôi nghĩ, sự “vơ vào” này có nguyên nhân.

Trước hết, có lẽ các nhà nghiên cứu muốn chứng minh rằng “văn học Công giáo” là một kho tàng lớn lao, giàu có bên cạnh văn học dân tộc, nên cố gắng đưa vào càng nhiều càng tốt, kể cả tác giả ngoài Công giáo và tác phẩm không phải là sáng tác văn chương (?).

Thứ hai, do không có “tiêu chí” (lý luận văn học) làm nền, các nhà nghiên cứu đã không đủ rạch ròi để chỉ ra đâu là nhà văn Công giáo, đâu là tác phẩm văn học Công giáo. Số tác giả là người Công giáo viết văn chương thế tục rất đông, nhưng họ không viết tác phẩm văn học Công giáo, không dùng tác phẩm để loan báo Tin Mừng như “tiêu chí” của các nhà nghiên cứu.

Thứ ba, vì số tác phẩm văn chương nghệ thuật Công giáo (tiểu thuyết, thơ) còn rất mỏng so với tác phẩm văn chương thế tục, nên các công trình nghiên cứu đưa vào công trình đủ các loại văn hóa phẩm: sách Ngôn ngữ học (đặc biệt là Chữ Quốc ngữ), sử học, biên khảo, từ điển, báo chí và các sinh hoạt tôn giáo…Đành rằng những sách này có giúp thêm thông tin liên văn bản để hiểu văn học Công giáo, song đó không phải là tác phẩm văn học Công giáo.

Thí dụ, Nguyễn Vy Khanh giới thiệu:

“Sinh hoạt Văn-hóa, Văn-học, Biên-khảo:

“Lm. Kim Định – Vương Kỳ Sơn – Trần Văn Đoàn – Lm. Vũ Đình Trác – Lm. Trần Văn Kiệm – Lm. Phan Đình Cho – Nguyễn Khắc Xuyên –  Đ.Ô. Trần Ngọc Thụ – Lm. Nguyễn Thái Hợp – Lm. Nguyễn Chí Thiết  – Võ Long Tê – Lê Hữu Mục – Lê Văn Lân – Đặng Tiến – Lm. Phạm Đán Bình – Bùi Xuân Bào  – Lm. Trương Đình Hoè – Đỗ Mạnh Tri – Trần Văn Cảnh – Lê Đình Thông – Liễu  Trương – Đỗ Quang Vinh – Bùi Vĩnh Phúc – Cao Thế Dung – Đỗ Hữu Nghiêm – Đỗ Văn Gia – LS Lâm Lễ Trinh – Lữ Giang Nguyễn Cần – Nguyễn Gia Kiểng – Nguyễn Đức Cung – Nguyễn Cúc – B.S. Phạm Hữu Trác – Mặc Giao – Minh Võ – Nguyễn Đăng Trúc – Nguyễn Lý Tưởng – Nguyễn Nam Châu – Trần Văn Toàn – Nguyễn Văn Trung – Nguyễn Văn Lục – Trần An Bài – Nguyễn Công Bình – Nguyễn Vy Khanh “(tr. 533) .

Nhìn vào danh mục này, người đọc có thể hiểu rõ “tính cách văn học” của mỗi tác giả và thái độ chọn lựa của nhà nghiên cứu.

  1. Tại sao văn học Công giáo còn “xa lạ” ?

Nếu “văn học Công giáo” là một nền văn học đồ sộ (như công trình của Nguyễn

Vy Khanh) thì sao trả lời được câu hỏi của Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh, GP Kontum: “Ấy thế mà không hiểu sao văn học Công giáo Việt Nam cứ xa lạ, vắng bóng trong các tư liệu, sách báo ở bên ngoài xã hội?

Câu trả lời là: Tác phẩm văn học là yếu tố trung tâm, quyết định giá trị, tầm vóc một nền văn học (chẳng hạn văn học Trung Quốc, Ấn Độ). Không có tác phẩm lớn thì không có nền văn học lớn. Vậy, xin chỉ ra, văn học Công giáo Việt Nam có những tác phẩm, tác giả nào là tiêu biểu về tư tưởng và nghệ thuật, sánh ngang với văn học dân tộc?

Có chăng, chỉ nhà thơ Hàn Mạc Tử là người sánh vai với các nhà thơ đương thời, và có vị trí tiên phong trong việc cách tân thơ Việt trước 1945. Nhưng Hàn Mạc Tử được đánh giá cao ở những bài thơ đậm tình quê hương, và những bài thơ Siêu thực có ý nghĩa cách tân nghệ thuật. Người ta không đánh giá cao Hàn Mạc Tử là: “nhà thơ Công giáo”.

Hầu như, nhiều người Công giáo viết văn, chủ yếu là văn chương thế tục, không hề có mục đích “dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân” như yêu cầu của Nguyễn Vy Khanh.

Một bộ phận tác giả khác làm “văn chương phong trào”, viết theo quán tính bắt chước, cũng viết để loan báo Tin Mừng, nhưng chỉ là lặp lại những lời rao giảng của giáo sĩ, có rất ít sáng tạo nghệ thuật. Lê Đình Bảng đã quyết liệt phủ định “giá trị” của loại “văn chương” này. Ông bảo rằng những “sáng tác” phong trào ấy “không đáng gọi là văn học”.(tr.51)

Nhà nghiên cứu lịch sử văn học chỉ quan tâm đến tác giả, tác phẩm, hiện tượng, trào lưu văn học nào có ý nghĩa góp phần làm phát triển lịch sử văn học. Những tác giả, tác phẩm “phong trào” không phải là đối tượng được quan tâm.

Bộ sách “Có một vườn thơ đạo” gồm 5 quyển (2.430 trang), giới thiệu 183 tác giả thơ Công giáo suốt từ thời Hàn Mạc Tử (1912) đến nay. Các tác giả gồm nhiều thành phần xã hội, khắp trong Nam, ngoài Bắc. Có cả tác giả sống ở Đức, Pháp, Mỹ, Canada…Trong số 183 tác giả ấy, tôi chỉ tìm thấy vài người đã thành danh như: Bàng Bá Lân, Hồ Dzếnh, Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Lê Đình Bảng, Bùi Chí Vinh; Trần Vạn Giã (Hội viên HNV), Trần Mộng Tú, Lưu Minh Gian (tức Lm Cao Gia An), Phi Tuyết Ba (Hội viên HNV), Nguyễn Thị Mai (hội viên HNV),…còn lại, hầu hết là tác giả làm thơ phong trào (làm thơ theo quán tính, không sáng tạo).

  1. Niềm hy vọng

Tất nhiên là sau Huấn thị 1659 (Monita ad Missionarios) của Thánh Bộ Truyền bá Đức

tin (Rôma), các Thừa sai người nước ngoài đã điều chỉnh nhận thức, thái độ, lối sống để hội nhập với văn hóa Việt; và, hơn 300 năm sau đó, Công đồng Vaticano II (1962-1965) đã mở ra một thời đại mới để đạo Công giáo hội nhập hơn nữa vào văn hóa dân tộc. Nhờ thế, giới nghiên cứu cả Công giáo và ngoài Công giáo bình tâm hơn trong việc nhìn nhận những giá trị văn hóa, tâm linh đạo Công giáo đóng góp cho dân tộc.

Dẫu thế nào, các công trình của GM Dom Hồ Ngọc Cẩn, Võ Long Tê, Lê Đình Bảng, Nguyễn Vy Khanh đã là những tài sản hết sức quý giá của văn học Công giáo Việt Nam. Bởi, trong nghiên cứu, mọi nỗ lực suy tư, tìm kiếm, khám phá, dù thành quả có khiêm tốn, thì giá trị cũng là vô giá. Cho đến nay, công trình của các nhà nghiên cứu ấy đã khẳng định có một nền văn học Công giáo Việt Nam đặc sắc trong dòng chảy văn học dân tộc. Nền văn học ấy đã góp phần làm phong phú văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ và nghệ thuật dân tộc, đồng thời mở ra nhiều triển vọng phát triển.

Hiện nay, văn học Công giáo đã có được những nhà nghiên cứu trẻ, được đào tạo trong môi trường học thuật, bước đầu đã khẳng định tài năng và hướng nghiên cứu văn học Công giáo. Đó là NCS nữ tu Đặng Ngọc Oanh, Thạc sĩ nữ tu Đặng Thị Lĩnh, Thạc sĩ Vinc Nguyễn Tấn Tài, Thạc sĩ Pio Bùi Văn Hướng…

(Ths Đặng Thị Lĩnh, Ths Nguyễn Tấn Tài

Ths Bùi Văn Hướng, NCS Đinh Ngọc Oanh)

Rồi đây các công trình nghiên cứu văn học Công giáo sẽ được tiếp tục và sẽ có những thành tựu mới, chuyên nghiệp hơn. Bởi vì, các nhà nghiên cứu trẻ sẽ vận dụng được các lý thuyết văn học mới cùng với những phương pháp tiếp cận liên ngành (như họ đã thực hiện ở cá luận văn tốt nghiệp), đồng thời khai thác được nguồn tư liệu ở các thư viện nước ngoài (thư viện Roma, thư viện Paris chẳng hạn); hơn thế, văn học Công giáo đã có thêm những thế hệ nhà văn mới sau 2010, tác phẩm của họ sẽ bổ sung vào và làm rõ hơn những phẩm chất Công giáo trong văn học. Vì thế, chúng ta có quyền hy vọng.

Vấn đề là, sau những Thư gửi văn nghệ sĩ của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II (năm 1999), và thư của Đức Giáo hoàng Phanxicô “về vai trò của văn chương trong đào tạo” ngày 04/8/2024, gửi các ứng viên linh mục, các nhân viên mục vụ và tất cả Kitô hữu, thì giáo hội Việt Nam có quan tâm đến văn học Công giáo hay không? Hay các nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu văn học Công giáo vẫn một mình, đơn độc, với cây viết, làm nhiệm vụ loan báo Tin Mừng!

Nhưng trước hết các nhà nghiên cứu văn học Công giáo phải xác định được nội dung những phạm trù cơ bản của lý luận văn học Công giáo làm nền tảng “phương pháp luận” cho cả nền văn học.            Tôi nghĩ, Thư gửi văn nghệ sĩ của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolo II (năm 1999), và thư của Đức Giáo hoàng Phanxicô “về vai trò của văn chương trong đào tạo” (năm 2024), là những tiền đề lý luận văn học Công giáo rất quan trọng mà nhà nghiên cứu có thể vận dụng.

Tháng 10 / 2026

__________________

[1] Lê Đình Bảng: Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường. Nxb Từ điển Bách khoa. 2010, tr.48

[2] Văn chương An Nam. Par Le R. P. Domonique Hồ Ngọc Cẩn. Nxb Hongkong 1933

[3] Võ Long Tê: Lịch sử văn học Công giáo Việt Nam. Nxb Tư Duy, Sài Gòn, 1965.

[4] Lê Đình Bảng: “Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường”. Nxb Từ điển Bách Khoa. 2010

[5] Nguyễn Vy Khanh: Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam. Nguyễn Publishing, Toronto. 2023

[6] Xin đọc: Bùi Công Thuấn-Tây Dương Gia Tô bí lục và những nghi vấn. Nguồn:Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV. 2022. Tr.437

[7] Xin đọc: Bùi Công Thuấn-Đọc lại tiểu thuyết Một linh hồn của Thụy An. Nguồn: Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV. 2022. Tr.425. https://www.vanthoconggiao.net/2021/06/oc-lai-tieu-thuyet-mot-linh-hon-cua.html

Loading

★ ★ ★ ★ ★
Chưa có đánh giá nào
👁 0 lượt xem
0 lượt xem hôm nay
Đánh giá bài viết

Bài viết liên quan:

Tiểu thuyết Khải Huyền Muộn và Kitô giáo

  TIỂU THUYẾT “KHẢI HUYỀN MUỘN” và KITÔ GIÁO (Đọc Khải Huyền Muộn của Nguyễn Việt Hà. Nxb Trẻ 2022) Bùi Công Thuấn *** Đọc bản full theo link: https://www.mediafire.com/file/pk1f1t6tg4reeuv/4+KHẢI+HUYỀN+MUỘN-Bản+full+official.pdf/filehttps://drive.google.com/file/d/1cr10G8x98m3oDT0GG31raCzh60Ty63aZ/view?usp=drive_link   Nhà văn Nguyễn Việt Hà (tên thánh là Giuse) sinh năm 1962 tại Hà Nội. Ông học về kinh tế, từng là công chức của một ngân hàng Nhà

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI

“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (Chuyên luận) Bùi Công Thuấn *** Để nghiên cứu tác phẩm văn học Công giáo, tôi đề xuất khái niệm “bút pháp hiện thực cứu rỗi”. Khi viết về văn chương Song Nguyễn [[1]], tôi đã dùng khái niệm này. Dù vậy, cần làm rõ những nội hàm có

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

Chuyên luận VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO  Bùi Công Thuấn *** Bạn có thể tải về để đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/c9uq77y4x5x0rqj/Chuyên+luận+Song+Nguyễn-full.rar/file   NỘI DUNG   Phần I: Tổng quan (tr.2) 1.      Đạo Công giáo ở Việt Nam 2.       Những định kiến lịch sử (tr.3)    Phần II: Những vấn đề lý

NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG

NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG (Đọc Bồ câu không đưa thư và Cho tôi xin một vè đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh) Bùi Công Thuấn *** BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/rr7dwb918f0ofcj/NGUYỄN+NHẬT+ÁNH+&VĂN+CHƯƠNG+THỊ+TRƯỜNG.pdf/file Ở Việt Nam, cho đến nay, đã hình thành 3 dòng văn học: Văn học cách mạng và kháng chiến,

KHÚC GIAO MÙA – Bùi Công Thuấn

KHÚC GIAO MÙA Bùi Công Thuấn ***   BẠN CÓ THỂ NGHE BÀI VIẾT NÀY TRÊN YOUTUBE: https://youtu.be/3J58lDn8Ex4 Hàng 1: Doãn Quốc Sỹ, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Hàng 2: Lê Lựu,  Nguyễn Xuân Khánh, Oha5m Thiên Thư Hàng 3: Đặng Tiến, Nguyễn Huy Thiệp, Vũ Hạnh  *** Những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam

VĂN HỌC ĐỒNG NAI- CÁC CHUYÊN LUẬN CỦA BÙI CÔNG THUẤN

VĂN HỌC ĐỒNG NAI-CÁC CHUYÊN LUẬN CỦA BÙI CÔNG THUẤN   (Chi Hội Nhà văn Đồng Nai 2026) 1.HOA ĐỎ BÊN SÔNG. LLPB. Nxb HNV. 2014. Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/dwce87axqhgy8vo/5_HOA_%25C4%2590%25E1%25BB%258E_B%25C3%258AN_S%25C3%2594NG_-HNV.pdf/file https://drive.google.com/file/d/14G52cd-V8133ME3YhGD-zt_Vq6MzgLqn/view?usp=drive_link 2.NHÀ VĂN ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb Đồng Nai 2018 Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/m986b3uu5pfb2uj/8_NH%25C3%2580_V%25C4%2582N_%25C4%2590%25E1%25BB%2592NG_NAI-b%25E1%25BA%25A3n_in_2018.rar/file https://www.mediafire.com/file/94uqtv8mu3y87qt/Nha_van_Dong_Nai.pdf/file 3. 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb HNV. 2024 Link để

45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI

GIỚI THIỆU CHUYÊN LUẬN 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI Tác phẩm của Bùi Công Thuấn. Nxb Hội Nhà văn 2024   https://www.youtube.com/watch?v=sPPzmUHoHEo&t=14s BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link Hoặc tải về theo link: https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file

KHÔI VŨ – NGUYỄN THÁI HẢI & HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG

KHÔI VŨ - NGUYỄN THÁI HẢI & HÀNH TRÌNH VĂN CHƯƠNG Chuyên luận của Bùi Công Thuấn BẠN TẢI VỀ ĐỂ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/ytr1eax48n0i19p/00+KHÔI+VŨ-NTH+&+Hành+trình+văn+chương-Official.pdf/file https://drive.google.com/file/d/1Fxc2FGqs5J2pPHIEUMUMeHgGWBn13Qm2/view?usp=drive_link MỤC LỤC I. Tiểu sử - Chuyện đôi bạn. tr.2 II.Khái quát tác phẩm của Khôi Vũ - Nguyễn Thái Hải 1.Tiểu thuyết. tr.10 2.Truyện ngắn. tr.21 3.Truyện Tuổi Hoa. tr. 34 4.Truyện thiếu

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok