VĂN HỌC CÔNG GIÁO TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC DÂN TỘC
(Chuyên luận)
Bùi Công Thuấn
***
![]()
Từ khi Girolamo Maiorica (1591–1656) và Alexandre de Rhodes (1593 – 1660) in những tác phẩm văn học bằng tiếng Việt (chữ Nôm và Quốc ngữ) đầu tiên đến nay, văn học Công giáo đã gần 400 năm hình thành và phát triển.
Trong dòng chảy của lịch sử văn học dân tộc, văn học Công giáo đã đóng góp những giá trị gì? Đây là vấn đề mà nhiều nhà nghiên cứu văn học Công giáo đã trăn trở; cũng là câu hỏi nhiều thế hệ nhà văn Công giáo phải trả lời.
|
NỘI DUNG Phần I: Khát vọng và nỗ lực (tr.1). Phần II: Những đóng góp đầu nguồn (tr.3). Phần III: Gắn bó với hiện thực đất nước (tr.13). Phần IV: Góp phần hiện đại hóa văn học Việt (tr.16) PHẦN V: Hội nhập và phát triển (tr.19) KẾT Bạn tải về để đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/tnbgtbwhcg68uvj/1+VHCG+trong+Lịch+sử+văn+học+dân+tộc-official.pdf/file |
PHẦN I: KHÁT VỌNG VÀ NỖ LỰC
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu lịch sử văn học Công giáo. Tuy nhiên, Giáo hội Việt Nam chưa có một bộ “Lịch sử văn học Công giáo” chính thức. Các công trình mới ở dạng nghiên cứu, tìm kiếm và đề xuất vấn đề:
- Lịch sử văn học Công giáo. Võ Long Tê. Nxb Tư Duy. Sài Gòn. 1965.
- Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường. Lê Đình Bảng. Nxb Từ điển Bách khoa. 2010
- Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Bùi Công Thuấn. Nxb Hội Nhà văn. 2022
- Sơ thảo Văn học Công giáo Việt Nam. Nguyễn Vy Khanh. Nguyễn Publishing. Toronto. 2023
- Hoa trên núi thánh. Bùi Công Thuấn. Nxb Hồng Đức. 2025
Những công trình này là kết tinh thành tựu nghiên cứu của nhiều thế hệ đi trước mà do hoàn cảnh lịch sử các nhà nghiên cứu chưa hoàn thành được khát vọng của mình.
Có thể kể tên những nhà nghiên cứu văn học có thế giá như: bài viết của Lm Georg Schurhammer (1951), Gs Hoàng Xuân Hãn (1908 – 1996), nhà nghiên cứu Phạm Đình Khiêm (1920-2013), các bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên (1903-2005), GS Lm. Thanh Lãng (1924-1988), GS Nguyễn Văn Trung (1930-2022), PGS-TS Võ Văn Nhơn, PGS-TS Nguyễn Hữu Sơn, Lm Trương Đình Hiền, Lm Hai Tính, nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Quang, Lê Minh Sơn, Lm TS Vinc Nguyễn Hưng (1927–2010) và Nhóm Dịch thuật Nghiên cứu Hán Nôm Công giáo…
Lm. Nguyễn Hưng cho biết, có khoảng 308 ấn phẩm Hán – Nôm Công giáo từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 20. Nhóm đã phiên âm và dịch được khoảng 127 đến hơn 100–150 tác phẩm sang chữ Quốc ngữ…
Tất cả những nỗ lực ấy góp phần định hình diện mạo rất rộng của nền văn học Công giáo Việt Nam. Chỉ tiếc là giới nghiên cứu văn học sử Việt Nam chưa quan tâm đầy đủ đến bộ phận văn học này của dân tộc.
Thực ra trong các công trình trên, các nhà nghiên cứu Võ Long Tê, Lê Đình Bảng và Nguyễn Vy Khanh cũng chưa xác lập được đầy đủ diện mạo nền văn học Công giáo ở nhiều phương diện như: những quan điểm nền tảng của Lý luận văn học Công giáo, chưa thống nhất danh mục Nhà văn và tác phẩm văn học Công giáo; chưa nghiên cứu đầy đủ những đóng góp của văn học Công giáo với văn học dân tộc; từ đó, chưa chỉ ra những đặc điểm phát triển của lịch sử văn học Công giáo như một nền văn học có ý thức.
Văn học Công giáo đến nay vẫn là một nền văn học tự phát. Mỗi nhà văn sáng tác theo ý thức riêng của mình, hoạt động văn học nghệ thuật đơn độc. Hội Đồng Giám mục Việt Nam đã có Ủy Ban Văn hóa, Ủy Ban Thánh nhạc, Ủy Ban Nghệ thuật thánh [[1]], nhưng chưa có Ủy Ban Văn học.
Nhà nghiên cứu Võ Long Tê khẳng định: “Với sứ mạng thánh hóa, tính chất dân tộc, khả năng dung hợp, nền văn học Công giáo Việt Nam có một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học của dân tộc”[[2]].
“Người đọc sẽ hỏi, văn học Công giáo thánh hóa điều gì trong tâm thức dân tộc này?
Chẳng lẽ dân tộc này đầy tội lỗi, cần thánh hóa? Văn học Công giáo mang tư tưởng phương Tây, khi vào Việt Nam, nó mang ý thức thực dân, vậy tư tưởng này gắn bó thế nào với hồn cốt dân tộc? Và, văn học Công giáo dung hợp những giá trị gì trong văn hóa dân tộc, khi đời sống tâm linh của dân tộc này hướng theo Phật, Nho, Lão. Và, tín ngưỡng của dân tộc này là đạo thờ Trời, đạo Hiếu với rất nhiều lễ hội tôn vinh các vị thần là các anh hùng dân tộc đã được thần hóa? Cứ đọc chương “Đạo Vạy” trong “Phép giảng tám ngày” của Alexandre de Rhodes thì sẽ rõ cái mà Võ Long Tê gọi là “văn học Công giáo với sứ mạng thánh hóa” ấy chính là ý thức thực dân muốn xóa bỏ văn hóa bản địa!
Văn học dân tộc có hai dòng chính là văn học yêu nước chống ngoại xâm và văn học nhân đạo chủ nghĩa. Vậy “nền văn học Công giáo Việt Nam có một địa vị xứng đáng trong lịch sử văn học của dân tộc”, thì địa vị ấy ở đâu? Khi mà: “nhà văn Công giáo… dùng sáng tác để dẫn đường vào tâm linh, loan báo Tin Mừng và đem Thiên Chúa đến với tha nhân”(Nguyễn Vy Khanh)[[3]].
Rõ ràng các h tiếp cận vấn đề như thế không thể khẳng định được văn học Công giáo có một chỗ đứng trong lịch sử văn học dân tộc.
Bởi cách làm của các nhà nghiên cứu là, chứng minh văn học Công giáo có nhiều tác giả tác phẩm. Nhưng mà, chưa có Lý luận văn học Công giáo xác lập thế nào và nhà văn Công giáo, thế nào là tác phẩm văn học Công giáo. Cho nên các công trình nghiên cứu văn học Công giáo đã đưa vào nhiều tác giả không phải là nhà văn Công giáo. Đó là các nhà nghiên cứu ngữ học, lịch sử, văn hóa, dịch thuật, báo chí, Tây và ta, trong và ngoài nước, cả nhạc sĩ, họa sĩ; đưa cả từ điển, báo chí, Thư chung, lịch, kinh đọc… vào “tác phẩm văn học Công giáo”.
Trong thực tế, “nhà văn Công giáo” (người sáng tạo Cái Đẹp theo Mỹ học Kitô giáo) là rất ít, mặc dù số người Công giáo làm nghề viết văn là khá đông đảo. Nhưng xin lưu ý rằng, họ viết văn chương thế tục. Tác phẩm của họ, hoặc có mục đích chính trị, hoặc viết văn chợ (văn chương thị trường) kiếm sống, loại tác phẩm chỉ nhằm đáp ứng thị hiếu giải trí của người đọc. Tất cả những tác phẩm ấy không phải là “tác phẩm văn học Công giáo”
***
PHẦN II: NHỮNG ĐÓNG GÓP ĐẦU NGUỒN
Muốn khẳng định văn học Công giáo có vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học dân tộc, các nhà nghiên cứu cần phải chỉ ra, văn học Công giáo đã có những đóng góp gì vào sự phát triển lịch sử văn học dân tộc?
Đầu nguồn của văn học Công giáo là tác phẩm của Girolamo Majorica (1591-1656) và Alexandre de Rhodes (1593-1660). Hai người đã đặt những nền móng đầu tiên cho văn học Công giáo chữ Nôm và chữ Quốc ngữ. Sau đó là Thầy cả Philippe do Rosario Bỉnh, một nhà văn Công giáo, biên soạn một khối lượng tác phẩm Quốc ngữ đồ sộ. Sấm Truyền Ca (1970) của Lữ Y Đoan và Inê tử đạo Vãn (1700) đặt những dấu mốc quan trọng vể thể Diễn ca và hình tượng nhân vật mới trong dòng chảy văn học Việt.
- GIROLAMO MAJORICA- Đầu nguồn văn xuôi Công giáo chữ Nôm
![]()
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng Girolamo Maiorica viết 48 tác phẩm chữ Nôm gồm sách giáo lý, sách truyện hạnh thánh, phỏng tác Kinh Thánh, và sách giảng thuyết. Cuốn Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông in năm 1632 đặt một cột mốc thời gian. Các Thánh truyện (1646) là truyện văn xuôi chữ Nôm hiếm hoi góp vào văn học Việt Nam lúc ấy.
Giáo sư Chương Thâu nhận xét:
“Những tác phẩm Nôm của Majorica đều thuộc thể văn xuôi nhằm phản ánh xã hội, tâm lý, văn hóa thời đại bấy giờ. Khi đọc chuyện kể về những vị Thánh của phương Tây và phương Đông trong Truyện các Thánh… qua lối văn mang tính chất khẩu ngữ mộc mạc, kiểu chuyện kể dân gian (folkloro) không kém phần hấp dẫn. Trong số hàng trăm nhân vật ở trong Truyện các Thánh, mỗi truyện coi như một “đoản thiên tiểu thuyết” được miêu tả khá sinh động. Có nhiều truyện giống như Truyện Đức Phật Thích Ca xuất hành từ bốn cửa thành. Có truyện lại tương tự như Truyện Phật bà Quan Âm Thị Kính, truyện gái giả trai sống chung một cách đứng đắn trong cộng đồng giới tu hành như Truyện Thánh Théodore, v.v.
Quá trình những truyện Nôm của Majorica được xác lập văn bản từ thế kỷ XVII đã để lại cho chúng ta những “văn liệu” chữ Nôm thật quý giá. Nó mang đầy đủ những nét “đặc trưng của chữ Nôm và văn xuôi Nôm” thời đó. Nó là những nguyên bản (original), là bản văn đầu tiên. Nó không giống với “các tác phẩm thơ ca thuộc loại văn vần” như Hồng Đức Quốc âm thi tập, như thơ Nôm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, v.v. mà “văn bản chữ Nôm” của chúng phần lớn mới được người đi sau xác lập lại từ thế kỷ XIX”.[[4]]
Tôi đã có bài nghiên cứu riêng về Majorica. Xin ghi lại vài giá trị:[[5]]
Đóng góp của Majorica thật đồ sộ, phong phú. Các Thánh truyện là truyện kể về cuộc đời đạo hạnh của các thánh được Giáo hội Công giáo cử hành lễ kính mỗi ngày theo dương lịch. Chẳng hạn, tháng 12 có 31 ngày thì kể 31 truyện. Ngày 25 tháng 12 kể truyện “Con Đức Chúa Trời ra đời”. Theo Nguyễn Đông Triều [[6]], chỉ tính số truyện trong 11 tháng, Các Thánh Truyện đã có 425 truyện, trong khi văn xuôi Việt chỉ có 3 tập truyện (gồm 88 truyện) chữ Hán: Việt Điện U Linh tập có 27 truyện, Lĩnh Nam Chích Quái có 22 truyện (và phụ lục 19 truyện), Truyền Kỳ Mạn Lục có 20 truyện.
Majorica đem Thần học Kitô giáo và các truyền thống văn hóa phương Tây vào tư tưởng Việt bên cạnh tư tưởng Phật, Nho, Lão. Điều này mở ra một thế giới tư tưởng khác cho văn hóa, văn học Việt.
Majorica viết truyện “người thật việc thật”, chẳng hạn truyện Thánh Phanxicô Xavie (kính ngày 03/12). Nhân vật là các thành, những chứng nhân của đức tin, liên kết đời sống tâm linh, cõi thực trần gian với cõi trời. Vì thế, Các Thánh Truyện của Majorica có sức cổ vũ cho một đời sống làm sáng lẽ đạo thật. Majorica cũng kể nhiều phép lạ của các Thánh, những phép lạ đã được Vatican kiểm nghiệm khoa học. Vì thế, truyện kể có giá trị đức tin, khác với những truyện ma quỷ tâm linh dân gian.
Majorica sử dụng chữ Nôm, khẩu ngữ, tức là tiếng Việt thế kỷ 17. Ông kể chuyện như người Việt kể chuyện dân gian: vừa kể vừa bình luận rút ra bài học. Truyện của ông không tuân theo nguyên tắc bám sát văn bản Kinh thánh. Thí dụ, xin so sánh truyện ngày 25 tháng 12: “Con Đức Chúa Trời ra đời” với bất cứ đoạn trình thuật nào của Tân Ước về ngày Đức Giêsu Giáng sinh (Lc 2, 1-20). Vì thế, truyện của Majorica mang được bầu khí văn hóa Việt sống động và gần gũi (bằng những từ ngữ, những kiểu câu nói, những lối diễn đạt, những tâm tình, những kiểu tư duy, những minh triết dân gian và những lối nói dí dỏm…).
Truyện của văn chương Việt viết bằng chữ Hán sau này không có được những giá trị văn hóa này. Xin đọc: Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái (khởi đầu từ Ngô Thời Chí, 1753-1788), Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (1768-1839), Thượng kinh ký sự (1783) của Lê Hữu Trác…
Truyện của Majorica cũng nằm trong dòng chảy chính của văn học dân tộc. Đó là dòng văn học hiện thực, khuynh hướng đạo lý: văn học kể chuyện đời thực hướng đến giáo dục Majorica nhấn mạnh việc sống đạo noi gương các Thánh: “Khi ta đọc truyện ông Thánh nào, bà Thánh nào, phải có ý mà nghe cho hiểu, lại khi ngắm sự ấy phải xem việc ta làm có giống người Thánh ấy hay là chăng, mà thấy chẳng có giống còn khác xa, thì phải xin sức bề trên mà rốn (rán) cho được bắt chước như làm vậy”[21 đd]. Việc “ta làm có giống người Thánh ấy, bắt chước như làm vậy”.
Nguồn văn liệu chính của Văn học trung đại Việt Nam là điển ngữ Trung quốc. Chẳng hạn, nói về ý chí phục thù và chịu đựng gian khổ, Nguyễn Trãi (1380-1442) viết: “Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời./ Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối”(Bình Ngô Đại cáo)… Câu: “Nếm mật nằm gai” là điển tích thời Xuân Thu (722–479 TCN), Trung Hoa, kể chuyện Việt Vương Câu Tiễn. Hoặc, Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), sau Majorica, trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (1861), viết: “Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây; Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ”. Câu văn tế này có hai điển ngữ Trung quốc là: “da ngựa bọc thây” và “gươm hùm treo mộ”[[7]]. Majorica làm giàu thêm nguồn văn liệu Việt bằng điển ngữ của văn hóa phương Tây.
Năm 1629, Majorica bị trục xuất khỏi xứ Đàng Trong. Năm 1631, ông lại theo tàu Bồ Đào Nha cập bến Đàng Ngoài. Ông sống và qua đời tại Thăng Long năm 1656. Điều này giúp người đọc hiểu rằng, chính sự gắn bó của ông đối với đất nước này đã giúp ông viết được những tác phẩm giá trị cả về tôn giáo, văn chương, ngôn ngữ và văn hóa Việt.
Majorica là tác giả văn xuôi chữ Nôm Công giáo đầu nguồn có những đóng góp giá trị vào kho tàng văn xuôi chữ Nôm của văn học trung đại Việt Nam.
***
2.ALEXANDRE DE RHODES – Đầu nguồn văn chương Quốc ngữ Công giáo.
![]()
Rhodes in Từ điển Việt – Bồ – La và cuốn Phép giảng tám ngày bằng chữ Quốc ngữ năm 1651 tại Roma (nhà in của Thánh bộ Truyền bá Đức tin – Sacra Congregatio de Propaganda Fide) . Đây là những thành tựu ngôn ngữ, văn chương Quốc ngữ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển văn chương Quốc ngữ về sau.
Từ điển Việt – Bồ – La trở thành chuẩn mực cho việc sử dụng tiếng Việt chữ Quốc ngữ. Người kế tục Rhodes viết những tác phẩm quốc ngữ hoàn chỉnh đầu tiên là thầy cả Philippe do Rosario Bỉnh (1759-1833), người cùng thời với Nguyễn Du (1766-1820). Nói như vậy để thấy văn chương Công giáo Quốc ngữ đã phát triển cùng thời với văn chương đỉnh cao trung đại.
Phép giảng tám ngày của Rhodes là một tác phẩm chính luận quốc ngữ hoàn chỉnh song song với các thể văn chính luận của dân tộc như Chiếu, Biểu, Cáo, Văn tế, Văn sách. Thí dụ: Chiếu dời đô (Lý Thái Tổ. Chữ Hán.1010), Biểu tạ ơn (Nguyễn Trãi. Chữ Hán. 1439), Bình NGô Đại Cáo (Nguyễn Trãi. Chữ Hán. 1428), Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu. Chữ Nôm. 1861)…Rhodes sử dụng tiếng Việt khẩu ngữ trò chuyện như người bình dân:
“Vì vậy ta phải hay ở thế này chẳng có ai sống lâu; vì chưng kẻ đến bẩy tám mươi tuổi chẳng có nhiều. Vì vậy ta nên tìm đàng nào cho ta được sống lâu, là kiếm hằng sống vậy: thật là việc người quân tử. Khác phép thế này, dù mà làm cho người được phú quý, song le chẳng làm được cho ta ngày sau khỏi làm tiểu nhân, khốn nạn. Vì vậy ta chẳng phải học đạo cho ta được phú quý ở thế này. Vì chưng ích đạo thánh Đức Chúa Trời về đời sau. Người thế sự đời này lành dữ thì hay: lẽ qua đời này cho khi chết được vui vẻ đời sau thì chẳng hay…” (Ngày thứ nhất: Đạo thánh Đức Chúa Trời)
Đoạn văn dùng nhiều câu phức có mệnh đề phụ chỉ nguyên nhân (“vì vậy, vì chưng”), mệnh đề phụ chỉ sự nhượng bộ (“dù, song le”…) tạo nên mạch lập luận của văn chính luận. Từ “chẳng” được lặp lại 5 lần trong đoạn văn (văn nói). Rodes luận về sự “khôn ngoan” ở đời. Ông lập luận bằng những chứng lý đối nghịch. Thí dụ ông viết: “Người thế sự đời này lành dữ thì hay: lẽ qua đời này cho khi chết được vui vẻ đời sau thì chẳng hay”(người ở trên đời, biết rõ việc lành dữ ở đời. Nhưng lại không biết, sau khi chết, điều gì cho ta được vui vẻ): đối lập “hay”, với “chẳng hay”; đối lập “đời này”: với “qua đời này cho khi chết ”. Lẽ tử sinh là điều ai cũng phải đối diện, là “mẫu số chung” cho mọi nhân sinh quan ở đời. Rhodes khéo léo mở đầu cuộc trò chuyện (dùng khẩu ngữ tiếng Việt) bằng cách luận về “mẫu số chung” ấy, và ông dựa vào “đạo khôn ngoan” của người quân tử, là điều dễ thuyết phục nhất trong tư duy của người đương thời.
Trong Phép giảng tám ngày, những đoạn kể chuyện, văn của Rhodes giàu tính văn chương.
“Đọan kể lại chuyện Kinh Thánh như Đại hồng thủy, cuộc đời Chúa Giêsu từ khi sinh ra đến khi về trời…Rhodes kể chuyện (tự sự) sinh động: dựng cảnh, khắc họa nhân vật, tả tâm lý, xây dựng tình huống sống động. Rhodes sử dụng cách kể chuyện dân gian: không thuật lại câu chuyện theo nguyên văn Kinh Thánh, mà kể theo cốt truyện, diễn đạt một cách sáng tạo bằng ngôn ngữ cá nhân. Trong khi kể cốt truyện chính, Rhodes thêm vào những bình luận hoặc dẫn giải riêng, hoặc những liên hệ thực tiễn. Và, có lẽ để tạo sự hấp dẫn, Rhodes sử dụng nhiều huyền thoại. Trong văn bản Phép giảng tám ngày, Rhodes không ghi nguồn tham chiếu, nhưng người đã đọc Kinh Thánh đều có thể nhận ra nguồn.
Điều đặc sắc của ngòi bút A. Rhodes là vận dụng những thành ngữ minh triết Việt, cùng với triết học phương Đông để lập luận, đối thoại, thuyết phục; đồng thời đem vào tác phẩm những câu chuyện cụ thể, sinh động của đời sống Việt để phân tích, lý giải (chẳng hạn việc người Việt làm mâm cơm cúng giỗ ông bà tổ tiên), từ đó “giải đọc” những gì ông cho là mê tín”[[8]].
Hành trình và truyền giáo [[9]] được Rhodes cho in năm 1653 sau 8 năm ông rời Đàng
Trong (năm 1645). Đó là một cuốn hồi ký, ghi “người thật việc thật” mà Rhodes là người trong cuộc. Ông viết với ý thức sâu sắc về mục đích diễn ngôn, về chọn lựa con người, sự việc, biến cố lịch sử để ghi lại, để bày tỏ thái độ; về cách viết và về cả những ý nguyện của Rhodes chưa thực hiện được ở Việt Nam trong hành trình truyền giáo của mình. Vì thế, “Hành trình và truyền giáo” có nhiều giá trị lịch sử (có thể đối sánh với Thượng kinh ký sự – Chũ Hán.1783 của Lê Hữu Trác, 130 năm sau Rhodes).
Ngòi bút của Rhodes tràn đầy cảm hừng lãng mạn tôn giáo. Tình cảm của Rhodes dành cho vùng đất này bao trùm mọi góc nhìn của Rhodes. Hành trình và truyền giáo là một bút ký lãng mạn. Chất lãng mạn trong ngòi bút của Rhodes có thể làm người đọc nghi ngờ tính “chân thực lịch sử” và dẫn đến việc đọc không đúng tín hiệu ngôn ngữ của tác phẩm (thí dụ: cách đọc văn bản của Thụy Khuê). Tuy nhiên, nếu người đọc đối chiếu với những nguồn sử liệu khác nhau thì có thể nhìn ra độ xác thực những điều Rhodes kể lại trong một cuốn hồi ký này, và nguồn cảm hứng lãng mạn trong ngòi bút của Rhodes là từ đức tin và lòng nhiệt thành truyền giáo. Vì thế, Hành trình và truyền giáo giữ nguyên giá trị suốt gần 400 năm qua.
Có thể khẳng định Alexandre de Rhodes là người mở đầu văn chương Quốc ngữ Việt Nam. Ngoài giá trị tôn giáo, tác phẩm của ông còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa, lịch sử, văn học Việt thế kỷ 17. Đó là những đóng góp hết sức quý giá vào dòng chảy văn học Việt đương thời. Và đáng quý hơn là tấm lòng của ông đối với người dân và đất nước này (chương 6 & chương 7).
- SẤM TRUYỀN CA (1670)–Diễn ca lục bát Kinh Thánh bằng chữ Nôm.
![]()
Đầu nguồn thể loại Diễn ca Kinh Thánh chữ Nôm Công giáo là Sấm Truyền Ca (1670) của Linh mục Lữ Y Đoan. Tác phẩm này xuất hiện 150 năm trước Đoạn trường tân thanh (truyện Kiều) của Nguyễn Du. Sấm Truyền Ca gồm 5 tập, hiện nay chỉ mới tìm được quyển Tạo Đoan Kinh (chuyển thể Sách Sáng Thế) và một nửa cuốn Lập Quốc Kinh (chuyển thể Sách Xuất Hành)[[10]].
Thể lọai Diễn ca lịch sử viết bằng quốc âm (chữ Nôm) đương thời có Thiên Nam Ngữ lục (4.068 câu lục bát, tức 8.136 dòng), được viết vào khoảng năm 1682-1709 (wiki); Đại Nam Quốc sử Diễn ca (Lê Ngô Cát, 1858) gồm 1.027 câu thơ lục bát, (bản của Hoàng Xuân Hãn, Paris. 1956 có 2050 dòng thơ). Như vậy, Sấm Truyền Ca xuất hiện trước các diễn ca đương thời.
Tôi đã có bài viết về những giá trị văn chương của Sấm Truyền Ca [[11]], xin tóm tắt đôi điều:
Về tư tưởng, Tạo Đoan Kinh có cấu trúc: Vào đề – Kể chuyện Kinh Thánh – Lời kết. Đó là truyện kể có tính luận đề (xin đọc đoạn thơ mở đầu). Sau này Nguyễn Du cũng cấu trúc Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) như vậy.
“Tích xưa cho thấy vấn đề:
Sự đời sự đạo đi kề bên nhau”.
Trình bày Kinh Thánh trong hội nhập văn hóa dân tộc, thầy cả Lữ Y Đoan đã sử dụng nhiều cách diễn đạt rất tinh tế. Chẳng hạn, ông trình bày ý thức về Thiên Chúa của Kitô giáo trong tương quan với Thiên Mệnh của Nho giáo và ý niệm về Trời của tâm linh Việt.
Ngoài việc khẳng định lòng tin vào Trời, Lữ Y Đoan còn tập trung giáo dục đạo đức. Ông kết hợp đạo đức Kitô giáo với đạo đức Nho giáo và truyền thống dân tộc. Ông tô đậm đạo hiếu thảo, đạo vợ chồng, đạo làm người và “tam cương, ngũ thường”, “tu thân, tề gia” ; “minh đức, tân dân”.
Đặc sắc văn chương,
Tạo Đoạn Kinh có nhiều câu, nhiều đoạn, nhiều hình ảnh được dệt bằng tiếng Việt rất
đẹp. Ngôn ngữ thơ vừa bình dân, vừa trí thức. Tạo Đoạn Kinh cũng đặc sắc ở nghệ thuật kể truyện. Truyện được kể với tốc độ nhanh, có sự kết hợp giữa kể và tả tự nhiên. Những “lời bình” của tác giả chia sẻ được với người đọc diễn ngôn của tác giả. Chẳng hạn, đoạn viết về Đại hồng thủy. Câu chuyện thật dữ dội (Đoạn 7, tr. 23). Sấm Truyền Ca còn là bài ca đầy lòng tin, niềm vui, và niềm hy vọng (khác với truyện thơ Nôm buồn thê thiết, đầy bi quan…). Khả năng Việt hóa Kinh thánh thật tài năng. Những cảnh, những tình huống, những sinh hoạt, những nói năng nghĩ suy của con người trong Sách Sáng Thế hiện lên trong bầu khí sinh hoạt Việt Nam. Tình quê hương, lòng biết ơn tổ tiên, và lòng tin vào Trời được tô đậm trong suốt tác phẩm. Đây cũng là đặc điểm tâm thức Việt.
Những ý kiến của các nhà nghiên cứu khẳng định Sấm Truyền Ca là một truyện thơ Nôm trong di sản văn học dân tộc, sánh ngang với những truyện thơ Nôm khác. Hơn thế, Sấm Truyền Ca còn mở ra thể Diễn ca Kinh Thánh về sau, và nhìn xa hơn, Sấm Truyền Ca còn là “một giao lưu văn hóa” với các nền văn hóa thế giới (nhận định của nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh).
Đọan trường tân thanh (truyện Kiều) của Nguyễn Du (1766-1820) xuất hiện sau Sấm Truyền Ca 150 năm. Nếu thử so sánh hai tác phẩm, người đọc sẽ thấy Sấm truyền Ca có ý nghĩa tiên phong.
Cả hai cùng biên dịch một tác phẩm văn xuôi nước ngoài sang thể loại truyện thơ Nôm. Sấm truyền Ca kể chuyện Kinh thánh Cựu Ước, Truyện Kiều kể lại truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (đời Minh, Trung Quốc).
Cả hai tác phẩm đều có cấu trúc luận đề: Mở đầu là một đoạn thơ nêu chủ đề, tư tưởng, sau đó kể chuyện. Đoạn kết là một đoạn thơ kết lại vấn đề đã luận qua câu chuyện kể.
Cả hai đều sử dụng nguyên bản sáng tác văn học nước ngoài, từ nội dung, cốt truyện, tư tưởng, nhân vật, địa danh, thời gian, và đặc điểm lịch sử, văn hóa của bản gốc. Kim Vân Kiều Truyện là tác phẩm văn xuôi Trung Quốc. Sấm Truyền Ca là tác phẩm văn xuôi Kinh Thánh Cựu Ước, kể lại lịch sử Ơn Cứu Độ của dân Do Thái.
Khi dịch và chuyển thể thành truyện thơ Nôm thuần Việt, hai tác giả đã nỗ lực “Việt hóa” nhiều yếu tố văn hóa của nguyên bản để tạo nên một truyện thơ Nôm thuần Việt, đồng thời góp phần sáng tạo riêng của mình để làm nên một tác phẩm mới (những điều này đều đã được các nhà nghiên cứu phân tích cặn kẽ, tôi không nhắc lại). Về tiếp nhận văn học, Truyện Kiều được viết trong ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc quen thuộc nên người Việt dễ tiếp thu hơn.
Những so sánh như thế chỉ ra rằng, Sấm Truyền Ca là một thành tựu của truyện thơ Nôm Việt Nam từ trước Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du (1766-1820). Và vì thế, thành tựu của Sấm Truyền Ca có ý nghĩa tiên phong trong sự phát triển văn học chữ Nôm giai đoạn văn học trung đại Việt. Lưu ý rằng, bản dịch Chinh phụ ngâm tương truyền của Đoàn Thị Điểm (1705–1748) và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741–1798) đều xuất hiện sau.
- “THẦY CẢ PHILIPPHÊ BỈNH” (1759–1833)
![]()
Có thể khẳng định Thầy cả Philippe do Rosario Bỉnh là “nhà văn Công giáo” đầu nguồn với khối lượng tác phẩm Quốc ngữ đồ sộ nhất của văn học Công giáo Việt Nam,. Những đóng góp của ông cho tiếng Việt Quốc ngữ, cho những giá trị văn hóa, văn chương Việt thật quý giá.
Tên đầy đủ là: Lm. Philipphê do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh
Trong “Sách sổ sang chép các việc”[[12]], Philipphê Bỉnh viết tiểu sử của mình như sau: “Tôi là Thầy Cả Philipphê Bỉnh, quê ở Hải Dương xứ, Hạ Haõu (Hoàng) phủ, Vĩnh Lại Huện, Ngải Am xã, Địa Linh tôn (thôn), sinh ra năm 1759 là năm vua Jose nước Portugal phá Dàõ (Dòng) Đ.C.J. ở traõ (trong) địa phận mh. Đến năm 17 tuổi là năm 1775 vào ở nhà Thầy, thì đã mất Dàõ ở th (thành) Roma được 2 năm vì Đức th’ Phapha Clemte thứ 14 phá Dàõ Đ.C.J. ngày 22 tháng 7 năm 1773…” (tr.1-2).
Thời gian ở Lisbonne, Linh mục Bỉnh đã viết 21 bộ sách.
Trong Sách Sổ sang chép các việc (trang 600-601), Thầy cả Bỉnh ghi 21 bộ sách: [chữ trong ngoặc ( ) là chú thích]:
1.Truyện các đời Đ. Th’ Phapha (Đức thánh Phapha)
- Lề luật Dàõ (dòng) Đ. C. J. cũ (cùng) Bulla.
(Lề luật Dòng Đức Chúa Giêsu cùng Bulla).
3.Truyện Thầy Cả Alexandre cũ (cùng) các thầy.
- Truyện quỷ vương ra đời cũ (cùng) nhiều sự khác.
- Cuyển sách cắt nghĩa các kinh.
- Cuyển Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1797).
- Sách tự vị tiếng nc’(nước) ta cũ tiếng nc’ ng.
- Sách giảng 8 ng.(ngày) cho cho kẻ chịu ph’(phép) rửa tội.
- 2 Cuyển gương truyện
- Sách các kinh doạc (đọc) chiều hôm ban sáng
- Sách dạy xem lễ Misa
- Sách chép nhiều sự trão (trong) nc’ Đạimh (Đại Minh)
- Sách cắt nghĩa các kinh lễ Misa
- Sách chép lễ ph’ cũ các thầy từ và đạo
(Sách chép lễ phép cùng các thầy tử vì đạo)
- Truyện Oũ th’ Ignacio lập Dàõ Đ. C. J.
(Truyện ông thánh Ignacio lập Dòng Đức Chúa Giêsu, tức dòng Tên)
16.Truyện Oũ th’ Phanchico de Borja
17.Truyện Oũ th’ Phanchico Xavie
- Sách sổ sang chép các việc (1822)
- Truyện An Nam Đàng Ngoài cuyển nhất (1882)
- Truyện An Nam Đàng Traõ (Trong) cuyển nhị (1882)
- Sách suy ngắm sự địa ngục cũ (cùng) chuyện khác.
GS-Lm Thanh Lãng cho biết ông còn viết thêm:
1.Dictionarium Annamiticum Lusitanum (1797)
(Tự điển tiếng Bồ Đào Nha-An Nam)
2.Truyện nhật trình cũ Fernad Mendes Pinto (1817)
3.Truyện bà thánh Anna (1830)
4.Dictionarium Annamiticum Lusitanum (bản khác, không có năm)
Ngoài ra ông còn soạn sách Hán Nôm:
– Sách truyện các phép lạ. Borg.Tonch.17
– Sách kinh Thầy cả Bỉnh. Borg.Tonch.18
– Sách ngắm các mầu nhiệm trong kinh Mân Côi. Borg. Tonch. 34
Tôi ghi lại danh mục sách của Philippe Bỉnh, tuy chưa đầy đủ, song để bạn đọc thấy rằng ông là nhà văn Quốc ngữ Công giáo với ý nghĩa đầy đủ nhất của danh xưng này ngay từ khởi nguồn của văn học Công giáo và của văn học Việt Nam, đương thời với ông không có ai.
Ông ghi tên mình vào sách của ông với ý thức là tác giả, chịu trách nhiệm bản quyền (như tác giả phương Tây). Tác phẩm của ông được viết bằng nhiều thể loại, nhưng nhất quán một phong cách. Ngoài các loại sách kinh, sách dạy đạo. Ông có nhiều sách văn học. Nhiều tường thuật của ông thuộc dạng Ký (hồi ký), kể về các chuyến đi, kể việc Chúa Trịnh cấm đạo, kể các sinh hoạt trong nước và nước ngoài. Xin đọc, Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (1797), Truyện An Nam Đàng Ngoài (đoạn thứ 13: Tích luận 10 thánh Tử vì đạo. tr.172).
Xin trích Truyện An Nam Đàng Ngoài để bạn đọc tiếp cận với cách kể chuyện của Thầy cả Bỉnh:
“Ấy là Phượng Truyền (Phụng truyền) Nhà Trịnh năm 1712 mà khi sắp sửa ra Phượng
Truyền ấy thì có một Thầy Phù thủy vào cửa Phủ Liêu mà cáo quan công đồng rằng: “Mình biết trong Kẻ Chợ hai nhà, thì cũng như hai Tràng học mà dạy Đạo Portugues” thì các quan vui mừng, liền sai quân đi bắt tức thì, mà Thầy Phù thủy ấy thì chỉ dẫn.
Trước hết thì vào nhà ông Phêrô Hiệp mà bắt ông ấy cùng 3 đầy tớ. Đoạn mới đến nhà Thầy Dòng D.C.J. mà bắt Thầy Irmão Pio Xavier [197], cùng một đầy tớ người tên là Ignacio Sô. Khi quân điệu bấy nhiêu người đến trước mặt quan cai Phủ thì quan ấy phú cho quan Đề Lĩnh đến ngày hôm sau mới điệu vào Phủ là nơi các quan công đồng đã chực đấy, thì một quan văn hỏi rằng:
-“Đạo là thể nào mà chúng bay giữ“.
Thầy Irmão Pio thưa rằng:
-“Chúng tôi thờ phượng Chúa dựng nên Trời đất muôn vật, cùng giữ Lề luật Người dạy
mà kính chuộng Vua Chúa cùng thảo kính Cha Mẹ“.
Quan ấy mượn lấy điều ấy mà rằng:
-“Lề Luật Đạo dạy kính chuộng Vua Chúa, mà sao Nhà vương cấm Đạo chúng bây, thì chúng bây chẳng vâng lời mà hãy còn giữ một Đạo Nhà vương đã cấm“.
Quan ấy nói bấy nhiêu mà chẳng xét lẽ gì nữa, liền trỏ vào tượng Bụt ở đấy mà rằng phải vâng Phượng truyền mà kính lạy, cùng trỏ vào mẫu ảnh giấy có hình tượng ông thánh José, mà rằng đạp ảnh ấy.
Thầy Irmão Pio thưa rằng:
-“Chúng tôi thờ phượng có một Đức Chúa Trời mà thôi, bằng sự ảnh thánh thì chúng tôi chẳng đạp“.
Các quan thấy người nói quyết làm vậy thì truyền đánh 30 búa sắt, cùng bảo để ảnh lên trên đầu gối mà đánh cả và ảnh, nó có ý làm sự dữ tợn cùng ông thánh José nữa, song phép lạ ấy thì các người ở đấy điều xem thấy mà lấy làm lạ, vì khi nó đánh đầu gối nào thì Thầy Irmão lại chuyên ảnh sang đầu gối ấy, mà chịu được 30 búa sắt cùng ở vững vàng thì là sức mạnh thiêng liêng, chẳng phải là sức loài người ta, vì ông thánh José là Quan Thầy coi sóc thì chẳng muốn bỏ tôi tá người chịu khó một mình, liền theo đi mà gìn giữ cùng thêm sức cho nên khi quân quốc đến bắt người thì nó lấy được một mẫu ảnh giấy ấy thì chẳng ai biết song khi vào đến cửa Cung đường thì mới thấy, vì quân ấy có ý lấy mẫu ảnh đem về trình các Đảng quan cho người được tin thật rằng, mình đã bắt được dấu Đạo, song ý sâu nhiệm D.C.B. thì ông thánh José đã đến cửa Cung đường ấy mà giúp những tôi tá người khi phải chịu khó cho được mạnh sức”.[[13]]
Đoạn văn sử dụng khẩu ngữ bình dân để kể chuyện (có 16 chữ “thì”). Tiếng Việt cách nay 200 năm khá hiện đại. Tác giả trần thuật ở ngôi thứ ba (đứng ngoài quan sát), vừa kể vừa bình luận khách quan. Có chú ý ngôn ngữ, thái độ nhân vật. Truyện tập trung làm nổi bật phẩm chất trung kiên trong đức tin của những giáo dân bị bách đạo. Người giáo dân vừa phải đấu tranh tư tưởng với những lý lẽ của quan, vừa đối mặt chịu đựng những bạo hành cấm đạo. Tác giả khẳng định sức mạnh tâm linh của đức tin, giúp giáo dân chiến thắng mọi thế lực thế gian.
Có một bước phát triển về bút pháp văn xuôi. Majorica kể chuyện hạnh các thánh người nước ngoài, những người đã được Roma phong thánh và đặt ngày lễ kính. Trái lại Philippe Bỉnh kể chuyện “người thực việc thực” đương thời, trong nước[[14]] chịu tử đạo, mà trong con mắt tâm linh của ông, các vị ấy đã là “thánh”. Ông ghi rõ thời gian: “Ấy là Phượng Truyền (sắc chỉ cấm đạo) nhà Trịnh năm 1712” . Ông miêu tả quá trình quan cho lính đi lùng bắt người có đạo. Ông tường trình cụ thể cuộc đối chất giữa quan và giáo hữu ở cửa quan hình sự. Và ông cũng tả cận cảnh cách hành hình và sự kiên trung của giáo dân. Cái nhìn và cảm quan của ông là cái nhìn của con mắt đức tin. Bởi nếu nhìn bằng cảm quan khác, thì không thể giải thích được lòng đạo của tín hữu.
Điều này nằm trong truyền thống văn chương hiện thực Việt Nam, truyền thống ngợi ca những con người anh hùng, những “dân đen, con đỏ; dân ấp dân lân” kiên trung với lý tưởng mình lựa chọn, gắn bó với cộng đồng, với quê hương đất nước (lý tưởng phong kiến hay lý tưởng trong văn học cách mạng về sau).
- INÊ TỬ ĐẠO VÃN – HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ MỚI
(Xin trích bài viết: Inê tử đạo vãn, Những vấn đề nhìn từ văn bản)[15].
“Căn cứ vào những nguồn tư liệu đáng tin cậy, trong cuốn “Văn học Công giáo Việt
Nam, những chặng đường” trang 134, Lê Đình Bảng cho biết: Inê tử đạo vãn là một thiên trường ca bi tráng với 564 câu thơ Nôm lục bát và song thất lục bát phức hợp nội dung kể chuyện bà Inê Thanh chết rũ tù vì đạo năm 1700 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) ở Đàng Trong. Tác giả không ai khác hơn là thầy cả Lôren Huỳnh Lâu (1656-1712). Quê quán ở họ đạo Lâm Tuyền, phủ Diên Ninh (nay thuộc tình Khánh Hòa)”[[15]]
“Bài Vãn dài 562 câu lục bát Nôm, có xen kẽ những “cáo trạng” viết bằng chữ Hán, thể tự do (Văn bản tôi tham khảo là bản Quốc ngữ in trong tự điển Việt-La của Taberd năm 1838).
Mặc dù bài Vãn có một số chữ Nôm cổ ngày nay không còn sử dụng, nhưng nhìn chung, ngôn ngữ của bài Vãn dễ hiểu, gần với văn nói bình dân, không dùng điển tích Trung Quốc như văn chương bác học. Xen kẽ cũng có những câu giàu tính văn chương.
Cấu trúc truyện mạch lạc, lớp lang, sắp xếp theo hành trạng của các nhân vật. Nổi bật là việc miêu tả cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh cho lý tưởng giữa Inê với quan nghè, với Loren, Mac cô và với chính mình (mà Inê gọi là sự cám dỗ của ma quỷ). Đức tin mạnh mẽ giúp Inê chiến thắng. Chính những cuộc đấu tranh này tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện.
Nhân vật Inê hiện lên như một người phụ nữ vừa truyền thống, vừa rất mới.
Truyền thống ở đạo nghĩa hòa hiếu với cha mẹ, chồng con, anh em, làng xóm, nhưng rất mới ở đức tin theo Chúa, trung kiên đến cùng, đối mặt và vượt qua mọi hoàn cảnh; mới ở sức cảm hóa tất cả (Mac cô, Loren, Duminh và mọi người đều nghe theo lời Inê căn dặn, giữ đạo cho bền). Inê còn nghĩ đến giáo hội khi khuyên Loren trở về với giáo dân. Giáo hội đang trong cơn bị bách hại, cần có chủ chăn hướng dẫn đoàn chiên. Và mới ở sự hiểu biết (lẽ đạo), ở sự đối đáp lý lẽ với quan nghè mà quan nghè phải chịu phục. Tầm vóc Inê đã vượt xa kiểu người phụ nữ cũ chỉ biết công, dung, ngôn, hạnh, nội trợ trong nhà.
Về nghệ thuật, Inê là một nhân vật phụ nữ Việt, được miêu tả trong bối cảnh xã hội Việt đương thời (1700). Cách xây dựng nhân vật này đi trước Thúy Kiều trong Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du (1765-1820), và Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiều (1822-1888). Cả Thúy Kiều và Kiều Nguyệt Nga đều là nhân vật Trung Quốc, được miêu tả ước lệ, xa lạ với người dân Việt.
Thể truyện thơ Nôm trong bài Vãn này cũng đi trước Truyện Kiều và Lục Vân Tiên. Cách dựng truyện, cách khắc họa nhân vật, cách dùng tiếng Việt đã có những phẩm chất của văn chương hiện đại”.
PHẦN III: GẮN BÓ VỚI HIỆN THỰC ĐẤT NƯỚC
Văn học thế tục gắn bó với đời sống xã hội và những nhiệm vụ chính trị. Thí dụ văn
học phong kiến thể hiện tư tưởng Thiên mệnh Nho giáo, rao truyền đạo đức phong kiến, để xây dựng chính quyền phong kiến.Văn học Công giáo cũng có nhiệm vụ riêng là loan báo Tin Mừng, giáo dục đạo đức và lối sống tôn giáo. Tuy vậy, tôn giáo là một thành tố văn hóa của dân tộc, vì thế văn học Công giáo cũng là tiếng nói của giáo dân trước hiện thực đất nước.
1.Trước hết là vấn đề hội nhập văn hóa Đông – Tây. Trong xu thế phát triển của thế giới từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 (chủ nghĩa thực dân xâm lược khởi đầu là Bồ Đào Nha, rồi Tây Ban Nha), việc hội nhập văn hóa với phương Tây là tất yếu. Văn học Công giáo đã góp phần quan trọng. Xin đọc Majorica, A. Rhodes, Philippe Bỉnh.
2.Khi lịch sử Việt Nam bắt đầu biến động, nhà nước phong kiến đối mặt với thực dân Pháp xâm lược, thì văn học Công giáo Việt Nam hiện diện thế nào? Tất nhiên, nhà văn không phải là người chép sử, cũng không phải là nhà báo tường thuật sự việc, càng không phải là nhà chính trị tham gia vào chính quyền để giải quyết công việc. Nhà văn là “người lên tiếng nói của nhân dân”, bởi chức năng quan trọng của ngôn ngữ là “lên tiếng nói”.
Tiếng nói tiêu biểu của Văn học Công giáo trước hiện thực đất nước là tác phẩm của Đặng Đức Tuấn (1806–1874) [[16]] và Nguyễn Trường Tộ (1828–1871).
- LM ĐẶNG ĐỨC TUẤN
![]()
“Trong Thuật tích việc đạo nước Nam, Lm Đặng Đức Tuấn kể lại lịch sử nước Nam từ sau vua Lê Thần Tông (1627), đến Quang Trung, Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức và chỉ dụ “Phân sáp” 1861.
Lm Đặng Đức Tuấn chứng minh bằng lịch sử rằng, trong 200 năm (1627-1833), những khi có vua nhân hậu (nhơn hoàng) thì đời sống đạo của nhân dân rất tốt đẹp, đạo Chúa được rao giảng khắp nơi, đất nước thái bình thịnh trị. Lm Đặng Đức Tuấn tô đậm hình ảnh Giám mục Bá Đa Lộc giúp Gia Long cũng để chứng minh rằng, các Thừa sai vẫn có thể hợp tác và giúp vua dựng nước. Ngầm nói rằng, thái độ thù nghịch người có đạo, việc bắt bớ giết hại cái Thừa sai, đạo trưởng thời các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức là không đúng với tầm nhìn và sách lược của Thế tổ Gia Long.
Về tư tưởng, Lm Đặng Đức Tuấn nhìn hiện thực theo lẽ biến dịch (kinh Dịch), ngài không tìm lời giải đáp cho những vấn đề xã hội bằng Thiên mệnh của Nho giáo. Là con dân trong nước, ngài hiểu lẽ “hiếu-trung”. Tất nhiên, “hiếu -trung” theo quan điểm Việt. Người Việt có “đạo hiếu” thờ ông bà, người Việt trung thành với những chân lý của dân tộc như tôn trọng lẽ phải, coi trọng con người, coi trọng tình làng nghĩa xóm, gìn giữ truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống yêu nước…Tất cả những giá trị ấy đều hiện diện trong Thuật tích việc nước Nam [16 đd].
Trong Thuật tích việc nước Nam vãn, hình tượng trung tâm là hình tượng tập thể giáo dân trên nền của bối cảnh lịch sử xã hội đương thời. Miêu tả người giáo dân khốn khổ trong thời đại cấm đạo, Lm Đặng Đức Tuấn cũng tin yêu dân với tấm lòng của Nguyễn Trãi (1380-1442), Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888),
“Mịt mù mấy dặm nước non
Phân cha làng nọ, sáp con làng này.
Chông gai hào lũy bủa vây,
Gông cùm ngang dọc đó đây chất đầy.
Ngậm ngùi trời đất cỏ cây,
Núi Nam chất thảm, biển Tây dẫn sầu”.
(Câu 417-464)
Trên nền của hình ảnh đám đông giáo dân, Lm Đặng Đức Tuấn ghi lại cụ thể, chi tiết hình ảnh Đức cha Cuénot Thể bị bắt ở Gó Bồi cùng với những người trong gia đình ông Quả, bà Lưu. Tất cả bị đóng cũi giải đi và bị tra tấn (câu 554-608). Đức cha bị bịnh và qua đời. Hình ảnh Đức cha nhân từ, đẹp lẫm liệt
Dưới cái nhìn của lẽ biến dịch (“Dịch cùng tắc biến, biến tắc thông”) và đức tin Kitô giáo, Lm Đặng Đức Tuấn nhìn những cơn bách hại ấy, những oan khiên ấy là thử thách của Chúa, để nhiều người được nên thánh.
Đương cơn lụy tiết dưới đời
Đã nhiều người thánh về nơi thiên đàng
(câu 227-228)
- 4. NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (1828–1871), tiếng nói của lòng yêu nước.
Công trình “Nguyễn Trường Tộ – Con người và Di thảo” của Trương Bá Cần đã trình bày khá đầy đủ về Nguyễn Trường Tộ. Tôi không nhắc lại nội dung những kiến giải. Chỉ mượn lời của những nhà nghiên cứu có thế giá nói về Nguyễn Trường Tộ để làm sáng vấn đề văn học Công giáo và hiện thực đất nước đương thời.
Ông Trần Bạch Đằng (1926-2007)[[17]], nhà báo, nhà văn, nhà sử học, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001 nhận xét:
“Nguyễn Trường Tộ là một trí thức – theo nghĩa gần với hiện đại. Phân tích kỹ các “điều trần”, chúng ta dễ dàng phát hiện tính “không tưởng” ở một số chủ trương của Nguyễn Trường Tộ – Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực bởi chúng đụng đến bức tường lạc hậu kinh khủng về học vấn, về khoa học, sự mụ mẫm trong đầu các quan lại cao cấp, kể cả đấng chí tôn – nhưng ông vẫn không mệt mỏi. Tấm lòng yêu nước thúc đẩy ông. Ta quý Nguyễn Trường Tộ ở chỗ đó.
Trước đó, ông Trần Bạch Đằng còn bộc lộ ý riêng: “Theo ý riêng – hoàn toàn ý riêng của tôi – Nguyễn Trường Tộ đáng được hiển thánh theo cái nghĩa cả thế tục lẫn tôn giáo. Nếu quả con người có linh hồn và linh hồn vẫn tồn tại khi trái tim con người ngừng đập, thì Nguyễn Trường Tộ hiện đang ở cạnh Chúa, với vị trí cao, rất cao.”[[18]]
Trong Lời bạt cuốn sách, PGS-TS Chương Thâu (1935-2025), nhà sử học, nhận xét:
“ … Có thể nói Nguyễn Trường Tộ đã đề cập đến hầu hết mọi vấn đề về xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao… như là một hệ thống các vấn đề cần phải cải cách đổi mới ở xã hội đương thời. Đặc biệt, đường lối xây dựng, phát triển kinh tế, làm cho dân giàu nước mạnh, đối với Nguyễn Trường Tộ, luôn luôn được coi là một vấn đề cốt tử nhất. Về đường lối chiến lược là khá toàn diện và sâu sắc. Về sách lược, biện pháp thực hiện là cụ thể và rõ ràng, và về thái độ và tấm lòng thành của ông là vô cùng chân thành và cảm động. Ông đã kiên trì đề đạt những kiến nghị cải cách đó trong hơn mười năm ròng rã, đến mức độ khi bị bệnh phải nằm ngửa để viết tiếp các bản kiến nghị, ông vẫn không chán, không chùn. Vì như ông vẫn tự xác định: “Biết mà không nói là bất nhân, nói mà không nói hết là bất nghĩa”.(Tháng 7/ 1988)
Theo Lm Trương Bá Cần, đến đầu tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ đã thảo sẵn xong ba văn bản, làm thành một kế hoạch hoàn chỉnh gởi lên Triều đình Huế là:
1.Tế cấp luận. Bàn về các việc cần làm ngay để canh tân, tự lực, tự cường, phát triển đất nước.
2.Giáo môn luận . Gửi ngày 29/3/1863. Bàn về tự do tôn giáo.
3.Thiên hạ phân hợp đại thế luận (tháng 3-4. 1963). Bàn về những tình thế lớn trong thiên hạ)….Để có thể phát triển đất nước, cần phải hòa hảo với bên ngoài và hòa hợp ở bên trong.
Trong sách của Trương Bá Cần, 58 Di thảo (gọi là “Điều trần”) của Nguyễn Trường Tộ gởi lên Triều đình vua Tự Đức đều bằng chữ Hán (bản dịch do PGS-Ts Chương Thâu, TS Kiều Ly, Trần Lê Hữu và Trần Văn Quyền: Cán bộ của Viện Hán Nôm thực hiện).
Đọc văn Nguyễn Trường Tộ, dù viết về đề tài gì, người đọc cũng nhận ra tấm lòng của ông đối với dân, với nước. Ông tập trung vào lập luận, dựa trên lịch sử, đạo lý và thực tiễn để phân định lẽ đúng sai, từ đó thẳng thắn đề xuất với triều đình giải pháp. Tất nhiên, có nhiều đìều không “dễ nghe” đối với vua quan, và đúng như Trần Bạch Đằng nhận xét: “…chúng ta dễ dàng phát hiện tính “không tưởng” ở một số chủ trương của Nguyễn Trường Tộ – Ông nóng vội và nhất là ông không biết cơ chế của triều Tự Đức không bao giờ cho phép suy nghĩ của ông trở thành hiện thực”(đd).
Xin trích:
“Hiện nay tình hình trong nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh cáo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của dân đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong Triều đình quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều; ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ hận đời ghét kẻ gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thảo dã, chính là lúc Thắng, Quảng3 sẽ thừa cơ nổi dậy. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói: “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hủ mục sau mới bị sâu đục; nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình; dân loạn bên trong, rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế loạn không phải chỉ từ bên ngoài mà ở ngay trong nước vậy.
Than ôi! Dân chúng phụng sự quan trên, đóng thuế nạp tô, để mong được sống yên thân, thế mà bây giờ lại lấy những thứ nuôi sống người đó để làm hại người, nỡ khiến dân chúng vấp phải họa binh đao, nỡ tranh giành cái nhỏ mà bỏ cái lớn, cũng như muốn bảo tồn cành lá mà lại đem đẵn cả cội gốc”…(Thiên hạ đại thế luận-Tháng 2-3 năm Tự Đức 16 tức tháng 3-4 năm 1863)
Tuy tác phẩm (“Điều trần”) của Nguyễn Trường Tộ thuộc thể loại “văn chính luận” ta quen gặp trong văn chương trung đại Việt Nam, thể loại cận văn chương (sáng tạo), văn chương công cụ, nhưng tiếng nói của một trí thức, một nhà văn Công giáo trước thời cuộc cần được ghi nhận. Bởi văn chương, xét đến cùng, là sự “lên tiếng nói”, là “diễn ngôn” trước thực tại. Những tiếng nói của Đặng Đức Tuấn và Nguyễn Trường Tộ, tuy không được triều đình nhà Nguyễn lắng nghe, nhưng âm vang của lòng yêu nước thương dân trong trang văn của các ông vẫn còn vang vọng mạnh mẽ đến hôm nay.
PHẦN IV: GÓP PHẦN HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC VIỆT
Sau khi xâm lược và đặt xong chế độ đô hộ Việt Nam, người Pháp tiến hành chính sách văn hóa thực dân tiêu diệt văn hóa bản địa, áp đặt văn hóa Pháp, thay thế ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam. “…Để thực hiện mục đích đó, các chính sách văn hóa khác nhau đã được thi hành trong nhiều lĩnh vực: giáo dục, tôn giáo, báo chí, văn học nghệ thuật, phát triển hạ tầng cơ sở, làm biến đổi tục lệ địa phương qua việc xây dựng hương ước cải lương”[[19]].
Người Pháp xây dựng đô thị, tạo ra đời sống công nghiệp, làm phát sinh giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tiểu tư sản thành thị. Báo chí Quốc ngữ ra đời, bãi bỏ học thuật thi cử phong kiến, thay vào đó là nền giáo dục Tây học, nhằm đào tạo thiểu số người ra làm việc cho Pháp. Nghệ thuật phát triển theo khunh hướng phương Tây. Thí dụ, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (l’École supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine) được xem là “cái nôi” của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Phong trào “Âu hóa” trở thành cuộc vận động xã hội lớn: gỡ bỏ nề nếp phong kiến cũ, đề cao quyền tự do cá nhân, thúc đẩy bình đẳng giới, du nhập lối sống phương tây. Thí dụ Nam giới chuyển dần từ áo dài khăn đóng sang mặc âu phục, phụ nữ thành thị bỏ nhuộm răng đen, uốn tóc bồng, mặc áo dài cách tân…(xin đọc Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng).
Thế kỷ 20 với những biến động lớn lao: sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, rồi thế chiến I, thế chiến II, các cuộc cách mạng khoa học và chính trị, thì xu thế toàn cầu hóa là tất yếu. Và việc một dân tộc hội nhập với thế giới nhanh hay chậm sẽ quyết định vận hội của dân tộc ấy. Cuộc cải cách của Minh Trị Thiên Hoàng Nhật Bản từ năm 1868 là một thí dụ. Hiện đại hóa là một nhu cầu thời đại. Cho nên cuộc vận động Duy Tân (1906-1908) của Phan Chu Trinh hướng đến “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nằm trong xu hướng này.
Trong bối cảnh ấy, văn học Công giáo góp được gì vào việc hiện đại hóa nền văn học Việt?
![]()
Đầu thế kỷ 20, báo chí Việt Nam phát triển ồ ạt, đặc biệt là giai đoạn 1913-1939. Năm 1935, có 102 tờ, trong đó có 44 báo quốc ngữ và 58 báo Pháp ngữ [[20]]. Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận (1908-1945) là tờ báo Công giáo góp mặt 37 năm, nội dung phong phú:
“Nhựt báo nầy có ý khai đàng văn minh cho nhơn dân đặng tấn phát, cho bề đạo việc đời đều thông thuộc”[[21]] GS-TS Đỗ Quang Hưng (Viện nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam) trong cái nhìn tổng quan về báo chí trước 1945 nhận xét: “Nam Kỳ Địa Phận sống ngót 40 năm,được coi là tờ báo Công giáo thành công nhất cả về nội dung và hình thức, không chỉ có giá trị về thông tin, giáo dục Công giáo mà còn có đóng góp độc đáo về báo chí, về sự phát triển chữ Quốc ngữ”[[22]]. Thực ra, ngoài nội dung tôn giáo, Nam Kỳ Địa Phận còn mở rộng sang nhiều lĩnh vực văn hóa, tư tưởng, khoa học, lịch sử, kỹ năng sống (các mục Đạo lý, Phong hóa, Bá nghệ, Bát học và Văn tín)…góp phần hội nhập và hiện đại hóa đời sống tinh thần Việt đầu thế kỷ 20 hơn bất cứ tờ báo nào khác.
Sự xuất hiện của nhiều tuồng Công giáo cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, có ý nghĩa tiên phong. Ở những vở tuồng này, có sự kết hợp nghệ thuật tuồng truyền thống và nghệ thuật kịch phương Tây. Đó là Tuồng Cha Minh (tác giả: Marie-Antoine Louis Caspar tức cố Lộc Caspar sáng tác, xuất bản năm 1881), Tuồng Joseph (1888) của Trương Minh Ký; Tuồng Thương Khó (1912 / bản tái diễn 1923), GB Nguyễn Bá Tòng soạn; Tuồng Sinh Nhựt (Trường Á Thánh Xitêphanô Thể, Kontum. 1912). Tuồng Bảy mối tội đầu (Lm Dom. Hồ Ngọc Cẩn. 1922). Lưu ý rằng, vở kịch nói đầu tiên của sân khấu Việt Nam là kịch bản Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long, được công diễn lần đầu vào ngày 21–22 tháng 10 năm 1921 tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
![]()
Tuồng Cha Minh viết về thánh tử đạo Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), người Việt Nam. PGS-TS Võ Văn Nhơn nhận xét: “đây là vở kịch hiện đại viết bằng chữ Quốc ngữ sớm nhất của Việt Nam. Vở kịch này do đó là một cột mốc rất đáng ghi nhận trong lịch sử sân khấu Việt Nam nói riêng và lịch sử văn học Việt Nam nói chung”[[23]].
Truyện Thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản xuất bản năm 1887 bởi nhà in J. Linage tại Sài Gòn được công nhận là tiểu thuyết chữ Quốc ngữ hiện đại đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam. Đây là nhận xét của PGS-TS Võ Văn Nhơn:
![]()
“Truyện thầy Lazarô Phiền chỉ vỏn vẹn có 32 trang in, nhưng mang trong lòng nhiều yếu tố rất hiện đại. Trước hết, đó là một câu chuyện trong một câu chuyện. Thầy Lazarô Phiền đã thú nhận tội lỗi của mình cho một người bạn đồng hành của mình và tới phiên người đó lại trở thành người tường thuật. Tâm lí của nhân vật chính là đối tượng được miêu tả chớ không phải là sự kiện, hành động. Nhân vật người kể chuyện ở đây được thể hiện ở ngôi thứ nhất. Câu chuyện không được kể theo dòng thời gian một chiều truyền thống. Kết thúc rất bi thảm của câu chuyện cũng rất khác với bố cục hội ngộ – lưu lạc – đoàn viên của văn học truyền thống.
Đặc biệt là rất trung thành với quan niệm “lấy tiếng nói thường mọi người hằng nói ra” nên Thầy Lazarô Phiền không hề có một câu văn biền ngẫu. Đây là một quan niệm ông đã tiếp thu từ Trương Vĩnh Ký, người thầy của mình với quan niệm “chọn cách nói tiếng An – nam ròng”(3). Điều này rất có ý nghĩa trong thời điểm đó khi mà chúng ta biết rằng trong Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách viết sau đó 38 năm, trong Nho Phong của Nguyễn Tường Tam sau đó gần 40 năm, vẫn còn đầy rẫy các câu văn biền ngẫu. Lại càng có ý nghĩa hơn khi ta biết rằng ở Trung Quốc mãi đến cuối năm 1916 mới bắt đầu có phong trào bỏ văn biền ngẫu, sử dụng bạch thoại như là một phương cách để hiện đại hóa văn học”[[24]].
Bài thơ Ave Maria (Thánh nữ đồng trinh Maria) của Hàn Mạc Tử (1912-1940) được đánh giá là đỉnh cao của thơ ông. Ave Maria nằm trong tập Xuân như ý. Tập thơ được hoàn thành vào năm 1939. Phong trào Thơ Mới (1932-1945) khởi đi từ Phan Khôi (1887-1959) là thơ hiện đại Việt Nam với nhiều khuôn mặt lừng lẫy: Huy Thông, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Bích Khê, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Đình Liên, T.T.KH, Thâm Tâm, Anh Thơ…
![]()
Trong phong trào Thơ Mới, đóng góp của Hàn Mạc Tử có những giá trị đặc biệt. Thơ Hàn Mạc Tử là thơ của “Hương thơm, mật đắng và Máu cuồng và hồn điên”. Nếu đặt Ave Maria của ông bên cạnh những bài thơ siêu thực trong tập Tinh huyết (1939) của Bích Khê (1916-1946) và những bài thơ tư tưởng trong Điêu tàn (1937) của Chế Lan Viên (1920-1989), người đọc sẽ nhận ra vẻ đẹp tuyệt vời của thơ ông. Đúng như quan niệm của ông về thơ:
“Đức Chúa trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hương là để cho người đời hưởng thụ, nhưng người đời u mê phần nhiều không biết tận hưởng một cách say sưa, và nhân đấy chiêm nghiệm lẽ mầu nhiệm, phép tắc của Đấng Chí tôn. Vì thế, trừ hai loài trọng vọng là “ thiên thần” và “ loài người”, Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: “ loài thi sĩ”! Loài này là những bông hoa rất quí và rất hiếm, sinh ra đời với một sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hưởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời đã gây nên, ca ngợi quyền phép của Người, và trút vào linh hồn người ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhưng rất thơm tho tinh sạch…”;
“Cho nên tất cả thi sĩ trong đời phải qui tụ, phải đi khơi mạch thơ ở Đức Chúa Trời. Thi sĩ không phải là một người thường. Với một sứ mệnh của Trời thi sĩ phải biết đem cái tài năng ra ca ngợi Đấng Chí Tôn, và làm cho người đời thấy rõ vẽ đẹp của thơ, để đua nhau nhìn nhận và tận hưởng…” (Thư gửi cho Trọng Miên 1939)[[25]].
***
Rõ ràng là, trong hành trình hiện đại hóa văn học Việt của thế kỷ XX, văn học Công giáo đã có những góp có ý nghĩa tiên phong về tư tưởng, nghệ thuật và thi pháp. Đồng thời văn học Công giáo đã hòa vào dòng chảy văn học dân tộc như cùng xuất phát từ một nguồn mạch văn hóa, cùng phát triển trên một quê hương mà đời sống tinh thần của dân tộc hết sức giàu có, và cùng kết tinh thành vẻ đẹp con người Việt Nam trong cộng đồng nhân loại khắp bốn phương trời.
PHẦN V: HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
Cho đến cuối thế kỷ XX, số người Công giáo viết văn trên văn đàn trong và ngoài nước đã đông đảo. Dù nhiều người chỉ viết văn chương thế tục, song lương tâm Công giáo vẫn làm sáng lên trang văn của họ. Hiện chưa có công trình nào thống kê đầy đủ về họ. Bạn đọc có thể tham khảo công trình: Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam (Nguyễn Publishing. Toronto, 2023) của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh.
![]()
Trong nước, nhà văn Công giáo là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (mà tôi biết) có thể kể: nhà thơ Mai Văn Phấn, nhà văn Nguyễn Văn Học, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Tham Thiện Kế, Nguyễn Thị Khánh Liên, các nhà nghiên cứu văn hóa, văn học như TS Đặng Quốc Dương Minh, TS Hoàng Kim Oanh, Ts Nguyễn Thị Nguyệt. NCS Đinh Ngọc Oanh, Ths Đặng Thị Lĩnh, Ths Nguyễn Tấn Tài, Ths Bùi Văn Hướng…các nhà thơ, nhà văn Công giáo đương thời xuất hiện trên các trang giáo phận, các tạp chí văn học Công giáo như Song Nguyễn (ĐGM Dom Nguyễn Chu Trinh), Đức ông Xuân Ly Băng, Lm Trăng Thập Tự, Lm Trương Đình Hiền, Lm Cát Đen, Lm Nguyễn Đức Thông, Lm Cao Gia An, Lm Nguyễn Hồng Phúc, Lm Khắc Đỗ, nhà thơ Cao Huy Hoàng, Trần Trung Hậu, nhà văn Vinh Kiu, Hải Miên, Nt Xuân Cát, …
Cũng phải kể đến các tác giả trong bộ sưu tập thơ “Ở thượng nguồn thi ca Công giáo Việt Nam”(6 tập. Nxb Tôn Giáo 2009) của nhà nghiên cứu Lê Đình Bảng, và bộ sưu tập: “Có một vườn thơ đạo” (5 tập ) của Lm Trăng Thập Tự và nhóm chủ biên (Nxb Phương Đông. 2012) [[26]]; cùng với thơ của tập thể các tác giả trong các câu lạc bộ “Đồng Xanh Thơ” và “Thi Ca Cầu Nguyện”.
![]()
Hiển nhiên, văn học Công giáo đã hòa vào dòng chảy văn học dân tộc và góp phần vào sự phát triển chung. Sự góp phần ấy cụ thể là như thế nào.
Nếu lấy việc phản ánh hiện thực làm một giá trị của văn học, thì các nhà văn người Công giáo đã cùng với các nhà văn thế tục phản ánh nhiều mặt hiện thực đất nước. Riêng các nhà văn Công giáo thì tập trung phản ánh đời sống đức tin của giáo dân “Sống Phúc Âm trong lòng dân tộc” trong nhiều thập kỷ qua (xin đọc thơ Lê Đình Bảng, Xuân Ly Băng, Trăng Thập Tự, Trần Mộng Tú…), và đặt vấn đề lương tâm Công giáo trước những thách thức của thời đại (xin đọc Song Nguyễn, Nguyễn Đức Thông, Cao Gia An, Nguyễn Trung Tây, Vinh Kiu, Xuân Cát…)
![]()
Đóng góp đặc biệt của văn học Công giáo là tư tưởng Thần học và sự thể hiện Mỹ học Kitô giáo; cùng với việc miêu tả thực tại dưới cảm quan Nhân văn của Tin Mừng.
Tất nhiên, nhiều tác giả cũng góp phần cách tân văn học Việt trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa của văn học Việt cuối thế kỳ XX, đầu thề kỷ XXI.
Thí dụ, thơ Lê Đình Bảng (thơ truyền thống), thơ Mai Văn Phấn (thơ Hậu hiện đại), tiểu thuyết Vượt qua của Cao Gia An (thủ pháp Hậu hiện đại), tiểu thuyết “Ôi tội hồng phúc”(cái nhìn đa văn hóa) của Nguyễn Phương Thảo…
TẠM KẾT
Quá trình 400 năm phát triển của văn học Công giáo, khẳng định những giá trị sau đây:
1.Văn học Công giáo Việt Nam là một nền văn học, là một bộ phận của văn học dân tộc trong suốt dòng chảy lịch sử 400 năm qua.
Gọi là một nền văn học vì văn học Công giáo có tư tưởng Thần học và Mỹ học Kitô giáo làm nền tảng. Nền văn học ấy có nội dung là chủ nghĩa nhân văn Tin Mừng, có mục đích hướng đến là loan báo Tin Mừng và giáo dục đức tin. Nền văn học ấy đã gắn bó với dân tộc qua tất cả những biến cố lớn lao của lịch sử mà nhân vật chính là đời sống đức tin của giáo dân Việt (Inê tử đạo vãn, Tuồng Cha Minh), góp phần hội nhập văn hóa phương Tây. Cho nên, dù là những tác phẩm văn học Công giáo thời kỳ đầu (Majorica, Alexandre de Rhodes, Lữ Y Đoan, Philippe do Rosario Bỉnh) hay những tác phẩm văn học hiện đại (của Song Nguyễn, Nguyễn Đức Thông, Nguyễn Trung Tây, Cao Gia An, Lê Đình Bảng…) đều thống nhất một phẩm chất, đó là phẩm chất Kitô giáo (tư tưởng Thần học, Mỹ học, mục đích văn chương, chất liệu văn hóa của Kinh Thánh, đời sống đức tin của người giáo dân, lương tâm Công giáo trước những vấn đề lớn của dân tộc (thí dụ: Đặng Đức Tuấn, Nguyễn Trường Tộ…)
- Văn học Công giáo góp phần làm giàu văn học bằng những giá trị có ý nghĩa tiên phong. Alexandre de Rhodes, Thầy cả Bỉnh, Nguyễn Trọng Quản, khai nguồn văn xuôi Quốc ngữ. Tác phẩm văn xuôi chữ Nôm của Majorica (Các Thánh Truyện) lả văn xuôi chữ Nôm đầu nguồn hiếm hoi của văn học dân tộc. Sấm Truyền Ca, Inê tử đạo Vãn, Thuật tích việc nước Nam là những Diễn ca trường thiên, xuất hiện trước cả truyện thơ Nôm. Tuồng Cha Minh, Tuồng Thương khó, Tuồng Joseph, Tuồng Sinh nhật xuất hiện trước Kịch hiện đại Việt Nam. Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận (1908-1945) xuất bản suốt 37 năm, lâu hơn bất cứ tờ báo nào cùng thời. Chẳng hạn, Đông Dương tạp chí (1913-1919), Nam Phong tạp chí (1917-1934). Nam Kỳ Địa Phận có những đóng góp quan trọng vào hoạt động báo chí, sự phát triển chữ Quốc ngữ,và những vận động văn hóa của phong trào Duy Tân thời bấy giờ. Thơ Hà Mạc Tử góp phần đưa thơ Việt Nam từ cổ đển đến hiện đại (Thơ Đường đến thơ Siêu thực). Thơ Lê Đình Bảng góp một nhánh quan trọng vào thơ Việt hiện đại khi khai thác nhiều tần văn hóa dân tộc kết hợp với văn hóa Ki tô giáo, tư tưởng triết học phương Đông với Thần học phương Tây. Thơ Mai Văn Phấn là thơ của những trào lưu đương đại thế giới (thơ Hậu hiện đại chẳng hạn)
- Mặc dù nội dung tôn giáo của văn học Công giáo là nội dung chính, nhưng bao trùm lên tất cả vẫn là lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương nhân dân, thái độ gắn bó với dân tộc của các tác giả văn học Công giáo. Có chăng một chút khác biệt là màu sắc mới của những tình cảm dân tộc ấy. Thí dụ. Alexandre de Rhodes ca ngợi đất nước Việt Nam giàu đẹp [[27]]; Majorica chọn ở lại đất này. Ông qua đời ở Thăng Long. Thầy cả Bỉnh tuy sống lưu vong nhưng sáng tác bằng chữ Quốc ngữ để gắn bó với quê hương dân tộc. Thái độ sống vì dân vì nước của Lm Đặng Đức Tuấn và Nguyễn Trường Tộ làm cho vua quan nhà Nguyễn phải quý trọng.
Sự khác biệt mới mẻ ấy là: văn học Công giáo tin thờ Thiên Chúa (Thần học) nhưng vẫn trung với vua, hiếu với cha mẹ, thủy chung vợ chồng (đạo làm người của Nho gia), gắn bó xóm làng và sống đạo nhân nghĩa (đạo đức truyền thống Việt). Người Công giáo hôm nay vẫn sống đạo lý dân tộc, nhưng thêm phẩm chất mới là “sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc” vả phẩm chất công dân trong môi trường toàn cầu hóa (xin đọc Nguyễn Trung Tây, Cao Gia An, Song Nguyễn…)
- Cần lắm sự quan tâm của Ủy Ban Văn hóa trực thuộc Hội Đồng Giám mục Việt Nam để văn học Công giáo có điều kiện thực hiện sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Đó là khát vọng chung của người cầm bút Công giáo.
![]()
Lời dạy của Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong thư gửi văn nghệ sĩ 1999 và thư của Đức Giáo hoàng Phanxicô về “Vai trò của văn chương trong đào tạo” (2024) phải là chương trình hành động của Giáo hội trong Mục vụ văn hóa.
Tư tưởng của Tông huấn Giáo hội tại Châu Á (Ecclesia in Asia ) phải là ánh sáng của Mục vụ văn hóa: “Trong quá trình gặp gỡ các nền văn hoá khác nhau của thế giới, Giáo Hội không những truyền đạt các chân lý và những giá trị của mình và đổi mới các nền văn hoá từ bên trong, nhưng Giáo Hội cũng tiếp thu từ các nền văn hoá khác nhau, những yếu tố tích cực có sẵn trong các nền văn hoá đó. Đó là con đường bắt buộc cho những nhà rao giảng Tin Mừng khi trình bày đức tin Kitô giáo và làm cho nó trở nên một thành phần của di sản văn hoá của một dân tộc”(đoạn 21)
Trước hết cầu quy tụ người viết văn Công giáo trong một sinh hoạt chung của Giáo hội để định hướng Mục vụ văn hóa nghệ thuật. Cần tổ chức những cuộc thi văn học nghệ thuật để phát hiện và bồi dưỡng tài năng trẻ, và làm giàu kho tàng tác phẩm văn học nghệ thuật Công giáo. Cần có những bộ phận tổ chức công việc như in ấn, lưu trữ và quảng bá tác phẩm. Thành lập các nhóm nghiên cứu Lịch sử văn học Công giáo, nhóm nghiên cứu ngôn ngữ nhà đạo, nhóm sưu tầm và dịch thuật tác phẩm Công giáo (như Nhóm “Dịch thuật Nghiên cứu Hán Nôm Công giáo” của TS Lm. Vinc. Nguyễn Hưng…). Cần tổ chức nhiều cuộc hội thảo để lấy ý kiến các chuyên gia về những vấn đề văn hóa, văn học nghệ thuật Công giáo còn tồn tại, và cần khẳng định danh nhân văn hóa văn học Công giáo ở tầm vóc quốc tế những người có đóng góp cho sự phát triển văn hóa văn học dân tộc…
Gần đến ngày kỷ niệm 400 năm văn học Công giáo, khát vọng về Mục vụ văn học nghệ thuật của Giáo hội càng trở nên thúc bách.
Những nỗ lực hoạt động văn học Công giáo của Giáo phận Quy Nhơn nhiều chục năm qua thật quý giá.
- “Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”[[28]] là một nhiệm vụ trong “kỷ nguyên vươn mình”. Những đóng góp của văn học Công giáo cho lịch sử văn học dân tộc suốt 400 năm qua là những giá trị cần được phát huy hơn nữa để góp phần vào sự nghiệp phát triển đất nước.
Hơn nữa, văn học Công giáo Việt Nam cần được đặt trong tầm nhìn của Tông huấn Giáo hội tại Châu Á và văn học Công giáo toàn cầu, như chúng ta đã từng đọc: Tự thuật (Confessions, khoảng năm 397-400) của thánh Augustino; Thần khúc (La Divina Commedia, khoảng năm 1308 – 1321) của Dante Alighieri; tiểu thuyết Quo Vadis của Henryk Sienkiewicz, Giải Nobel văn học 1905,…
Tháng 10/ 2026
________________
[1] Ban thường vụ và Chủ tịch các Ủy ban trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2025 – 2028
https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/ban-thuong-vu-va-chu-tich-cac-uy-ban-truc-thuoc-hoi-dong-giam-muc-viet-nam-nhiem-ky-2025—2028
[2] Võ Long Tê: Lịch sử văn học Công giáo. NXB Tư Duy. Sài Gòn. 1965. tr.35
[3] Bùi Công Thuấn: Những vấn đề của Lý luận văn học Công giáo Việt Nam. https://buicongthuan.com/nhung-van-de-cua-ly-luan-van-hoc-cong-giao-viet-nam/
[4] Chương Thâu:Một số sách chữ Nôm ở Thư viện Quốc gia Paris. (Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 2/2001). https://hannom.vass.gov.vn/web/tchn/DATA1/0102.htm
[5] Bùi Công Thuấn: Jêronimo Majorica (1591-1656) & Đặc sắc văn xuôi chữ Nôm Công giáo thế kỷ XVII. https://buicongthuan.wordpress.com/2025/05/07/jeronimo-majorica-1591-1656/
[6] Nguyễn Đông Triều: Hiện tượng chép thiếu, chép thừa trong Các Thánh Truyện của Girolamo Majorica
https://bachkhoatoanthu.vass.gov.vn/noidung/anpham/Lists/baiviettoanvan/View_Detail.aspx?ItemID=102
[7] “Da ngựa bọc thây”: câu nói của Mã Viện, đời Hán. Mã Viện với một người bạn tên là Mạnh Ký: “nam nhi yếu đương tử ư biên dã, dĩ mã cách khỏa thi hoàn táng nhĩ, hà năng ngọa sàng thượng tại nhi nữ tử thủ trung tà!”. dịch là: Làm trai nên chết ở chốn biên thùy, lấy da ngựa bọc thây mà chôn mới là đáng trọng, chứ sao lại chịu nằm ở xó giường, chết ở trong tay bọn đàn bà con trẻ thì có hay gì?(Wiki chép theo GS. Nguyễn Thạch Giang, Từ điển văn học quốc âm. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2000, tr. 347.)
“Gươm hùm treo mộ”: Quý Trát có thanh gươm quý, vua nước Từ muốn xin, Quý Trát biết ý, định đi sứ xong sẽ tặng. Khi trở lại thì vua Từ đã chết, Quý Trát đem gươm treo lên mộ.
[8] Bùi Công Thuấn: Alexandre de Rhodes, Những vấn đề lịch sử. Nguồn: Hoa trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr.159 – https://buicongthuan.wordpress.com/2025/04/24/alexandre-de-rhodes-nhung-van-de-lich-su/
[9] Alexandre de Rhodes: Hành trình và truyền giáo: Divers voyages et missions dv P. Alexandre de Rhodes en la Chine, & autres royaumes de l’Orient, avec son retour en Europe par la Perse & l’Armenie …Publication: A Paris, Chez S. Cramoisy, imprimeur ordinaire du roy & de la reyne, et G. Cramoisy, 1653.
[10] Trăng Thập Tự-Võ Tá Khánh: Chuyên đề: cùng truy tìm “sấm truyền ca” của linh mục Lữ Y Đoan do tủ sách nước mặn – ban văn hóa giáo phận qui nhơn thực hiện. https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/chuyen-de-cung-truy-tim-sam-truyen-ca-cua-linh-muc-lu-y-doan-do-tu-sach-nuoc-man—ban-van-hoa-giao-phan-qui-nhon-thuc-hien
[11] Bùi Công Thuấn: Lữ Y Đoan và Sấm Truyền Ca. Nguồn: Hoa Trên Núi Thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr. 256.
https://www.vanthoconggiao.net/2024/04/sam-truyen-ca-cua-lu-y-doan-va-nhung-gia-tri-van-chuong-tac-gia-bui-cong-thuan.html
[12] Philippe Do Rosario Bỉnh: Sách sổ sang chép các việc. Quốc ngữ, hoàn thành khoảng 1822 ở Bồ Đào Nha. GS Thanh Lãng giới thiệu. Viện Đại học Đà Lạt ấn hành năm 1968. Dày 624 trang.
[13] Truyện Annam: Đàng Ngoài (quyển nhất)-Felippe do Rosario Nguyễn Văn Bỉnh, C.O.
José Xavier Nguyễn Nam hiệu đính và chú thích 1796-2026. Tr.137-138
[14] Xem danh sách một số vị tử vì đạo tiêu biểu ở hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài từ năm 1644 đến năm 1737 trong Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo (Borg.tonch.7 trang 142-149). Hoặc xem FB Joseph Xavier Nguyễn Nam:https://www.facebook.com/josephusxaverius/
[15] Bùi Công Thuấn: Inê tử đạo vãn, Những vấn đề nhìn từ văn bản. Nguồn: Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV 2022. Tr 450. https://www.vanthoconggiao.net/2021/08/i-ne-tu-ao-van-tac-gia-bui-cong-thuan-1.html
[16] Bùi Công Thuấn: Thuật tích việc đạo nước Nam của Lm Gioakim Đặng Đức Tuấn.https://www.vanthoconggiao.net/2022/01/thuat-tich-viec-ao-nuoc-nam-cua.html
[17] Trần Bạch Đằng (1926-2007. Từng giữ nhiệm vụ: Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định; Phó Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam; Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương
[18] Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ, Con người và Di thảo. Nxb Hồng Đức 2019
[19] Đặng Thị Hương Liên: Chính sách văn hóa của thực dân Pháp ở Việt Nam giai đọan 1858-1945
https://vanhoanghethuat.vn/chinh-sach-van-hoa-cua-thuc-dan-phap-o-viet-nam-giai-doan-1858-1945-77749374.html
[20] Lý Đăng Thạnh: Nền báo chí Việt Nam thời Pháp thuộc (1858-1945).
[21] Bùi Công Thuấn: Tuần báo Nam Kỳ Địa Phận (chuyên luận). Nguồn: Hoa Trên núi thánh. Nxb Hồng Đức. 2025. Tr.9
[22] Đỗ Quang Hưng-Báo chí tôn giáo ở Việt Nam trước 1945
https://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/20071/1/008.pdf
[23] Vở kịch quốc ngữ hiện đại đầu tiên của Việt Nam (Võ Văn Nhơn – Lê Thụy Tường Vi).
https://hcmussh.edu.vn/tin-tuc/vo-kich-quoc-ngu-hien-dai-dau-tien-cua-viet-nam
[24] Võ Văn Nhơn: Con đường đến với tiểu thuyết hiện đại của hai nhà văn tiên phong Nam Bộ
http://www.hobieuchanh.com/pages/baiviet/VoVanNhon/cddvtt_vovannhon.htm
[25] Hàn Mạc Tử- (Thư gửi Trọng Miên): https://taodan.vn/tho/han-mac-tu/quan-niem-tho-han-mac-tu-1649.html
[26] Xin đọc. Bùi Công Thuấn: Những mùa vàng văn học Công giáo. Nxb HNV. 2020
[27] A. Rhodes: Hành trình và truyền giáo. Chương 6 & 7
[28] Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ XIII.
![]()
Bài viết liên quan:
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM Bùi Công Thuấn *** Một nền văn học, muốn phát triển, cần phải có những tư tưởng làm nền tảng cho sáng tạo và nghiên cứu. Chẳng hạn, tư tưởng mỹ học, ý thức về sáng tạo văn học, tư tưởng về chức năng, nhiệm vụ cùa văn
TIỂU THUYẾT “KHẢI HUYỀN MUỘN” và KITÔ GIÁO (Đọc Khải Huyền Muộn của Nguyễn Việt Hà. Nxb Trẻ 2022) Bùi Công Thuấn *** Đọc bản full theo link: https://www.mediafire.com/file/pk1f1t6tg4reeuv/4+KHẢI+HUYỀN+MUỘN-Bản+full+official.pdf/filehttps://drive.google.com/file/d/1cr10G8x98m3oDT0GG31raCzh60Ty63aZ/view?usp=drive_link Nhà văn Nguyễn Việt Hà (tên thánh là Giuse) sinh năm 1962 tại Hà Nội. Ông học về kinh tế, từng là công chức của một ngân hàng Nhà
“HIỆN THỰC CỨU RỖI” TRONG VĂN HỌC CÔNG GIÁO VIỆT NAM (Chuyên luận) Bùi Công Thuấn *** Để nghiên cứu tác phẩm văn học Công giáo, tôi đề xuất khái niệm “bút pháp hiện thực cứu rỗi”. Khi viết về văn chương Song Nguyễn [[1]], tôi đã dùng khái niệm này. Dù vậy, cần làm rõ những nội hàm có
Chuyên luận VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO Bùi Công Thuấn *** Bạn có thể tải về để đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/c9uq77y4x5x0rqj/Chuyên+luận+Song+Nguyễn-full.rar/file NỘI DUNG Phần I: Tổng quan (tr.2) 1. Đạo Công giáo ở Việt Nam 2. Những định kiến lịch sử (tr.3) Phần II: Những vấn đề lý
NGUYỄN NHẬT ÁNH và VĂN CHƯƠNG THỊ TRƯỜNG (Đọc Bồ câu không đưa thư và Cho tôi xin một vè đi tuổi thơ của Nguyễn Nhật Ánh) Bùi Công Thuấn *** BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://www.mediafire.com/file/rr7dwb918f0ofcj/NGUYỄN+NHẬT+ÁNH+&VĂN+CHƯƠNG+THỊ+TRƯỜNG.pdf/file Ở Việt Nam, cho đến nay, đã hình thành 3 dòng văn học: Văn học cách mạng và kháng chiến,
KHÚC GIAO MÙA Bùi Công Thuấn *** BẠN CÓ THỂ NGHE BÀI VIẾT NÀY TRÊN YOUTUBE: https://youtu.be/3J58lDn8Ex4 Hàng 1: Doãn Quốc Sỹ, Du Tử Lê, Tô Thùy Yên, Hàng 2: Lê Lựu, Nguyễn Xuân Khánh, Oha5m Thiên Thư Hàng 3: Đặng Tiến, Nguyễn Huy Thiệp, Vũ Hạnh *** Những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ Việt Nam
VĂN HỌC ĐỒNG NAI-CÁC CHUYÊN LUẬN CỦA BÙI CÔNG THUẤN (Chi Hội Nhà văn Đồng Nai 2026) 1.HOA ĐỎ BÊN SÔNG. LLPB. Nxb HNV. 2014. Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/dwce87axqhgy8vo/5_HOA_%25C4%2590%25E1%25BB%258E_B%25C3%258AN_S%25C3%2594NG_-HNV.pdf/file https://drive.google.com/file/d/14G52cd-V8133ME3YhGD-zt_Vq6MzgLqn/view?usp=drive_link 2.NHÀ VĂN ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb Đồng Nai 2018 Link để tải về: https://www.mediafire.com/file/m986b3uu5pfb2uj/8_NH%25C3%2580_V%25C4%2582N_%25C4%2590%25E1%25BB%2592NG_NAI-b%25E1%25BA%25A3n_in_2018.rar/file https://www.mediafire.com/file/94uqtv8mu3y87qt/Nha_van_Dong_Nai.pdf/file 3. 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI. LLPB. Nxb HNV. 2024 Link để
GIỚI THIỆU CHUYÊN LUẬN 45 NĂM VĂN HỌC ĐỒNG NAI Tác phẩm của Bùi Công Thuấn. Nxb Hội Nhà văn 2024 https://www.youtube.com/watch?v=sPPzmUHoHEo&t=14s BẠN CÓ THỂ TẢI VỀ ĐỌC THEO LINK: https://drive.google.com/file/d/1-gj1tEuBaVTloT9d4yrnQPFxyRQlyOQc/view?usp=drive_link Hoặc tải về theo link: https://www.mediafire.com/file/hxxyn9m46watadd/45_nam_VH%25C4%2590N_B%25E1%25BA%25A3n_in_ch%25C3%25ADnh_th%25E1%25BB%25A9c.pdf/file