TÌNH YÊU CỦA THÁNH NỮ
(Đọc Và Em. Lễ khấn dòng của Lê Đình Bảng. Tuoi Hoa Publishing USA 2024)
Bùi Công Thuấn
***
![]()
Từ Hồ Xuân Hương đến Tản Đà, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Hoàng Cầm,… thơ tình Việt Nam đã đi một chặng đường dài những thành tựu đặc sắc. Cũng đã có thơ tình yêu mang màu sắc Thiền của Phạm Thiên Thư, nhưng tìm một tập thơ tình viết bằng Mỹ học Kitô giáo thì chỉ có thơ Lê Đình Bảng.
- Tập thơ “Và Em. Lễ khấn dòng”
Và Em. Lễ khấn dòng gồm 64 bài thơ tình yêu. Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc nhận định: “Cái đẹp lạ lùng ấy của tập thơ này là ở chỗ nó đi thong dong giữa hai bờ, hai cõi. Cõi trần, cõi bụi, và cõi đạo, cõi bát ngát hương hoa… Tập thơ buồn, đẹp, mênh mang, ấm áp, và đầy thiết tha vẫy gọi”.
Xin đọc các bài trong tập thơ (tôi ghi chú thêm thể thơ): Dấu yêu (Lục bát) tr.17 – Mùa trăng vu lan. (7 chữ) tr.18 – Tĩnh Tâm (7 chữ) tr.20 – Ngày mai Lễ khấn dòng (7 chữ). tr.21 – Bên ấy bên đây (Lục bát). tr.23 – Hoa xoan tim tím (8 chữ). tr.24 – Thương tưởng (7 chữ). tr.25 – Tôi ru tôi một đời (Lục bát vắt dòng). tr.26 – Hương nhu (Lục bát vắt dòng) tr.27. Lên ngọn sông đào (7 chữ). tr.28 – Đôi bờ (Lục bát). tr.29 – Nếu có một mai (8 chữ). tr.30- Trong vườn ngọc lan (7 chữ) tr.31 – Thanh xuân (Lục bát vắt dòng). tr.32 – Cuối một con đường (7 chữ). tr.33 – Con gái nhà trời (Lục bát) tr.34 – Ngọc lan hương (7 chữ) tr.35 – Và em. Lễ khấn dòng (Lục bát). tr.36 – Cõi thiêng (7 chữ, vắt dòng). tr.38 – Sơn tinh Thuỷ tinh (Lục bát). tr.39 – Lời dâng (7 chữ vắt dòng). tr.40 – Em lễ chùa nào (Lục bát) tr.41 – chuyện lòng (Lục bát vắt dòng). tr.42 – Chiều. (Lục bát vắt dòng). tr.43 – Trong cõi hương bay (Lục bát vắt dòng). tr.44- Hoa cối xay (7 chữ). tr.45- Chiêm bao (Lục bát). tr.46 – Tự tình với bóng (7 chữ). tr.47 – Hình như là tình yêu (Lục bát) tr.48 – Trong cơn mơ (7 chữ) tr.49 – Xa mấy quãng đồng (Lục bát). tr.50 – Những bến và bờ (7 chữ). tr.51 – Như là lễ mở tay (7 chữ). tr.52 – Giọt lệ ăn năn (5 chữ). tr.53 – Cánh thiệp màu hồng phấn (7 chữ). tr.54 – Mẫu đơn (Tứ tuyệt). tr.56 – Vu vơ (Lục bát). tr.57 – Bao giờ và chẳng bao giờ (7 chữ). tr.58 – Gửi về nơi xa lắm (Lục bát vắt dòng). tr.59 – Mai mốt em về nhà mẹ (7 chữ). tr.60 – Cây cải về trời (Lục bát vắt dòng). tr.61 – Ơn em một đời (7 chữ). tr.62 – Vội vã trao tay (Lục bát). tr.63 – Miền cỏ hoa (Lục bát ngắn). tr.64 – Kinh chiêu niệm (Lục bát 4 câu). tr.65 – Cơn mê dài (Lục bát) tr.66 – Có bầy én đưa tin (Lục bát hai câu). tr.67 – Ơn trời trời cho (Lục bát 2 câu). tr.68 – Nguyện cầu (Tứ tuyệt). tr.69 – Con đi học đạo xa nhà (Lục bát). tr.70 – Tràng châu mở cảnh tràng sinh (7 chữ). tr.73 – Biết ngày nào vơi (Lục bát Tứ tuyệt). tr.75 – Về phía giáo đường (Lục bát). tr.76 – Một đời con dâng hiến (7 chữ). tr.77 – Khói và mây (Lục bát). tr.81 – Nhật ký tình yêu của mai (8 chữ). tr.82 – Nghìn trùng (Lục bát 2 câu). tr. 90 – Diễm ca (Lục bát 2 câu). tr.91 -Sông chảy bốn mùa (7 chữ). tr.92 – Trong khu vườn rào kín (7 chữ). tr.93 – Nhớ hôm giỗ mẹ (8 chữ). tr. 97 – Bao giờ và bao giờ (Lục bát). tr.101 – Con cò đi đón cơn giông (Lục bát). tr.102 –
- Đọc thơ tình Lê Đình Bảng
Nhìn vào mục lục trên, có 32 bài Lục bát (gồm 7 bài Lục bát vắt dòng), 23 bài thơ 7 chữ. Như vậy, chất Ca dao và chất thơ Lãng mạn (về Thi pháp) chiếm toàn bộ không gian nghệ thuật của tập thơ. Nhiều bài là những Ca dao mới rất hay. Xin đọc: Con gái nhà trời. tr.34- Em lễ chùa nào tr.41- Con đi học đạo xa nhà tr.70 – Khói và mây tr.81 – Nghìn trùng tr.90 – Diễm ca tr. 91 – Con cò đi đón cơn giông tr.102.
EM LỄ CHÙA NÀO
Hỏi Em, chùa miếu đâu rồi
Ơi, con nghé ngọ lên đồi hay chưa?
Ai mang phẩm oản lên chùa
Niệm hương, khấn vái, bỏ bùa cho ai?
Tịnh không, một tiếng thở dài
Phòng riêng, gác khánh, mái ngoài tường rêu
Ai về, tôi ngóng trông theo
Ngẩn ngơ, trăng xế, ráng chiều bặt tăm
Lâu rồi, sao chẳng sang thăm
Cây dâu úa lá, nong tằm buồn so
Những chiều buồn, đứng co ro
Nhác trông khói nước, lưng bờ chênh chao
“Nàng ơi, tu ở chùa nào
Cho tôi làm tiểu, xin vào, tu chung.”
(Tràng An, Ninh Bình, 9.2009. tr. 41)
Và không phải vô tình Lê Đình Bảng nhắc tới Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính trong những vần thơ của mình khi diễn tả tình yêu trai gái.
Ta ở bên này, xa tít tắp
Những chiều lên khói, nhớ hoàng hôn
Nhớ vàng bông cải, câu kinh sớm
Nhớ Tháng Giêng, đồng bãi cỏ non
Chỉ một đỗi đường, bao cách trở
Chẳng vì đò dọc hay đò ngang
Cầu trời, Em vững tin, bền đỗ
Xa lánh những bùa mê, thế gian…
(Trong vườn ngọc lan. tr.31)
Bây giờ, ngày tháng ra Giêng
Em là của Chúa, của riêng nhà dòng
Mỗi lần ra đứng, trông mong
Gửi hương cho gió vào trong tường rào
(Và Em. Lễ khấn dòng. 36)
Người đọc dễ nhận ra những tứ thơ Lãng mạn trong các câu thơ trên. Huy Cận có tứ thơ: “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” (Tràng giang). Trong bài Tương tư, Nguyễn Bính viết: “Bảo rằng cách trở đò giang,/ Không sang là chẳng đường sang đã đành”. Xuân Diệu có tập thơ Gửi hương cho gió (1945). Dĩ nhiên Lê Đình Bảng đã đem vào bầu khi thơ Lãng mạn những nội dung và tâm tình mới.
Hai không gian nghệ thuật “truyền thống” này đủ sức quyến rũ người đọc thơ Việt. Nhưng cái khó của Lê Đình Bảng là làm mới “thơ truyền thống”. Nhất là đề tài tình yêu lứa đôi cũng là đề tài “truyền thống” trong Ca dao, trong Văn học Việt và trong thơ ca Lãng mạn (1930-1945). Điều ấy đòi hỏi nhiều công sức và tài năng sáng tạo về tư tưởng và thi pháp.
Người làm thơ còn bị cuốn vào những xu hướng thi ca Việt đương đại, đó là xu thế “cách tân” thơ, và yêu cầu đem đời sống chính trị xã hội vào thơ.
Chẳng hạn, thơ Kháng chiến (1945-1975) của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Quang Dũng, Trần Mai Ninh, Chính Hữu, Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm…; cách tân thơ của nhóm Xuân Thu Nhã Tập (1939-1942); nhóm Dạ Đài năm 1946; nhóm Sáng Tạo (1956) ở miền Nam (Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên…), cách tân thơ của Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm ở miền Bắc, và xu hướng làm thơ Hậu Hiện đại từ “đổi mới” (1986) như: Thanh Thảo, Nguyễn Quang Thiều, Văn Cầm Hải, Nguyễn Thúy Hằng… Ở Mỹ, Thơ Tân Hình thức của người Việt (new formalism poetry) với Khế Iêm, Đỗ Quyên…
Tôi không thấy dấu vết những nỗ lực “cách tân thơ” như vậy trong tập Và Em, Lễ khấn dòng của Lê Đình Bảng. Có chăng chỉ một chút “thử nghiệm” ở những bài thơ Lục bát vắt dòng, Lục bát Tứ tuyệt và Lục bát 2 câu, hoặc Thất ngôn vắt dòng (rất hiếm). Không có bài thơ tự do nào.
Như vậy, cần phải đọc Và Em, Lễ khấn dòng trong trường thẩm mỹ của “thơ truyền thống” mới có thể cảm nhận được cái hay và những đóng góp mới mẻ của thơ Lê Đình Bảng vào kho tàng thơ tình yêu của người Việt hôm nay. Không thể đọc Và Em, Lễ khấn dòng bằng tư duy nghệ thuật Hậu Hiện đại, cũng như không thể đọc thơ Thiền vô ngôn bằng những chuẩn mực của nghệ thuật Hiện thực; hoặc nói cách khác, văn hóa thực dụng Mỹ không thể sống chung với truyền thống nghĩa tình ở miền quê Việt!
- Thơ tình Lê Đình Bảng
Và Em, Lễ khấn dòng gồm 64 bài thơ riêng lẻ, nhưng nếu đọc liền mạch, người đọc sẽ nhận ra cả tập thơ như một “trường ca” về câu chuyện tình (Love story) của nhân vật Tôi/ Ta. Mỗi bài thơ là một lát cắt của câu chuyện ấy. Có một thế giới nghệ thuật toàn vẹn: có không gian, thời gian, cốt chuyện, sự việc; có suy tư và diễn biến tâm trạng, số phận của mỗi nhân vật. Tôi/ Ta là nhân vật trữ tình trong tác phẩm không phải là tác giả (con người xã hội). Việc đồng nhất nhân vật Tôi với tác giả sẽ gây ra ngộ nhận. Dù rằng trong tập thơ có đôi chi tiết đời thực: xin đọc “Nhật ký tình yêu của Mai” (trường ca. tr.82), hoặc, “Khi ấy, Em lên mười sáu tuổi/ Tôi từ Trường Tập về quê chơi” (Lên ngọn sông đào. tr.28), hoặc: “Mùa dịch giã, cả Sài gòn đều khóc/ Nỗi buồn con, có thấm tháp gì đâu” (Nhớ hôm giỗ mẹ. 97), nhưng câu chuyện tình yêu của Tôi đã được nghệ thuật hóa.
Bởi nếu là chuyện tình “người thật việc thật” giữa tác giả và một nữ tu thì việc miêu tả tình yêu lứa đôi có những giới hạn nghiêm nhặt. Mọi chi tiết miêu tả sẽ làm lộ nhân thân của nữ tu (người đang trong dòng tu), làm ảnh hưởng quan trọng đến đời tu. Điều này người làm thơ (hoặc bất cứ ai) đều không được phép xâm phạm. Cho nên, nhân vật nữ tu trong tác phẩm đã được khắc họa thành một “thánh nữ”, tuyệt vời thánh thiện, tinh khiết, không tì vết, không vướng bụi trần, là “người của Chúa”. Bút pháp lý tưởng hóa được dùng để vẽ lại chân dung nhân vật này. Trái lại, nhân vật Tôi, hiện lên bằng bằng thủ pháp của Chủ nghĩa hiện thực, tương phản với nhân vật “Thánh nữ”. Tôi là người phàm trần, tội lỗi, bờ bụi phiêu bạt, nhưng là người tình si “thánh nữ”. Dù có tương tư, có nhớ nhung, có đau khổ, hy vọng và tuyệt vọng, nhưng tuyệt nhiên không có cảm xúc xác thịt nhưng tình yêu trai gái trong thơ Xuân Diệu:
Xin đọc:
Trông lên
mấy nẻo thiên hà
Bởi Em
thánh nữ
bởi ta, phàm trần
(Thanh xuân. Lê Đình Bảng.Tr.32)
Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!
Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!
Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!
Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!
Hãy khăng khít những cặp môi gắn chặt
Cho anh nghe đôi hàm ngọc của răng;
Trong say sưa, anh sẽ bảo em rằng:
“Gần thêm nữa! Thế vẫn còn xa lắm!”
(Xa cách-Xuân Diệu-Thơ Thơ. 1938)
Tình yệu lứa đôi trong thơ Lê Đình Bảng chỉ có một ít kỷ niệm thật hồn nhiên, trong sáng, thánh thiện: kỷ niệm cùng em đi lễ, cùng trú mưa. Kỷ niệm về những chỗ hẹn: gặp Em ở những chỗ quen, ngay hàng hiên hay lối đi bên quán cà phê Gió; có hôm Em dạy đàn cho em nhỏ, “Ôi, bàn tay suối nguồn tinh khiết”; có hôm Em về muộn, có lẽ Em xưng tội và Tôi nhắc Em về chùm hoa mẫu đơn nở thắm trong vườn rào kín của nhà dòng. Những hẹn hò ấy gắn liền với hình ảnh Em đọc Thánh thư, Hoa đồng trinh Đức Mẹ, những mùa trăng tuổi mọn; và tương phản với nhân vật Tôi, làm tôn lê vẻ đẹp thánh thiện của em và sự trong sáng của tình yêu.
Thế là lại một Mùa Chay
Cùng Em đi lễ ngày rày, năm xưa
Hai người đứng trú cơn mưa
Thấy cây rau muống lên bờ, trồng bông
(Xa mấy quãng đồng. tr. 50)
TRONG KHU VUỒN RÀO KÍN
Chiều mai, hơi buốt heo may lạnh
Tan lễ, tôi chờ Em chỗ quen
Góc khuất, nhìn ra ngoài cửa sổ
Ai về trong gió lá, khăn len
Chiều mai, thứ Sáu, khi xong lễ
Tôi đợi, ngay hàng hiên, ngã tư
Phố nhỏ, chốt đèn xanh lá mạ
Cho chân ngoan sẽ bước hiền từ
Như chim én nhỏ nơi bờ tổ
Tôi thoáng nghe Em đọc thánh thư
Chiều mai, thứ Bảy, khi xong lễ
Em có về ngang qua lối này
Bên cạnh quán cà phê Gió, nhé
Dưới dàn bông giấy, hoa rơi đầy
Hình như, càng nắng, càng tươi thắm
Lặng lẽ, không hương, sao ngất ngây
Có phải hoa đồng trinh Đức Mẹ
Đương vào mùa bụi phấn bay bay
Ngày kia, Chúa nhật, sang đầu tháng
Em bận dạy các em đệm đàn
Đố đố son mì son đố đố
Tôi nghe rộn rã tiếng organ
Ôi, bàn tay suối nguồn tinh khiết
Cả một vườn thơm tho ngọc lan
Một hôm, tôi thấy Em về muộn
Có phải em vừa xưng tội không
Xin Chúa tha cho người trộm dữ
Con cò lặn lội mãi ven sông
Là tôi suốt bao năm lầm lạc
Giờ đã ăn năn và dốc lòng
Từ lúc thầm yêu và trộm nhớ
Cứ vào ra, cứ mãi trông mong
Dù cho mây kéo đen, vần vũ
Sấm chớp, rồi ùa ra, đổ mưa
Tôi vẫn chờ em ngang qua đấy
Đường trơn, bên kia dốc nhà thờ
Và mai kia, nếu Em đi xứ
Em có về nhà mẹ, cấm phòng
Em nhớ chùm mẫu đơn, nở thắm
Ở trong vườn rào kín nhà dòng
Ngày xưa, nó chưa hoa, chưa nụ
Em núp sau vòm cây, nhớ không
Yêu lắm những mùa trăng tuổi mọn
Bây giờ, con sáo đã sang sông
(tr. 93)
Tình yêu ấy khởi đầu rất tình cờ
Khi ấy, Em lên mười sáu tuổi
Tôi từ Trường Tập về quê chơi
Bỏ quên kinh sách trong nhà Chúa
Làm kẻ chầu nhưng suốt cả đời
(Lên ngọn sông đào. tr.28)
Nhà thơ ý thức ngay khoảng cách “mấy nẻo thiên hà”không thể vượt qua.
Thì ra, từ buổi Em yêu
Nụ tầm xuân đã thành điều thiêng liêng
Bây giờ, ngày tháng ra Giêng
Em là của Chúa, của riêng nhà dòng
(Và em, Lễ khấn dòng. Tr. 36)
Đã có những chới với, những hoảng hốt, những kêu thương khi người thơ không sao với tới được cõi thiêng của tình yêu
Mẹ ôi, vừa mới hôm qua
Người yêu con đã đi xa, xa rồi
Cũng đành đôi ngả đôi nơi
Trắng mây, bên ấy. Xanh trời, bên đây.
(Gửi về nơi xa lắm.Tr. 59)
Chúa ôi, cả những cơn mê
Bên này, dằng dặc. Bên kia, bời bời.
(Vội vã trao tay. Tr.63)
Em bảo, mình hy sinh, chịu khó
Làm giàu kho nhân đức mai sau
Trời ơi, nên thánh, gian nan quá
Biết vậy, mà sao vướng vít nhau
(Những bến và bờ. tr. 51)
Các bài thơ: Ngày mai Lễ khấn dòng (tr.21), Và em. Lễ khấn dòng (tr.36), Cánh thiệp màu hồng phấn (tr.54), và Nhật ký tình yêu của mai (trường ca-tr.82) là những “tâm khúc” tình yêu tuyệt vời của Lê Đình Bảng, thể hiện tài năng thi ca thiên phú của ông; giống như những tuyệt tình ca của Phạm Duy khi chia tay ngưới tình (Nha Trang ngày về, Nghìn trùng xa cách, Giết người trong mộng). Người đọc chỉ lặng im nghe Lê Đình Bảng kể chuyện tình và cảm nhận cái hay của nghệ thuật thi ca; lắng nghe lòng mình về những vang dội tình yêu nghìn trùng và để cho tiếng đàn tri âm tri kỷ rung lên trong không gian giữa các tâm hồn đồng điệu.
Nồng nàn quấn quýt là thế, níu giữ chắt chiu, yêu thương là thế; nhưng không sao giữ được tình yêu, vì khoảng cách không gian biền biệt, vì cách trở thời gian thăm thẳm, và vì hai người ở hai thiên hà xa xôi, không sao vượt qua được.
Trông lên
mấy nẻo thiên hà
Bởi Em
thánh nữ
bởi ta, phàm trần
(Thanh xuân. Lê Đình Bảng.Tr.32)
Em đã vào nhà dòng, thời gian cứ trôi, không gian ngày một cách trở, nhưng dan díu duyên tình không sao gỡ ra được, như chuyện tình Trương Chi-Mị Nương.
Thành ra, người thơ sống trong tương tư triền miên, nhiều khi thảng thốt kêu lên tiếng của tâm thức vô vọng, để rồi sống mà là “sống ảo” ngay trong đời thực, sống với tình yêu đơn phương, giằng xé giữa thánh thiện và trần gian, giữa lòng yêu của một con người và Thiên ý, giữa ý muốn chiếm giữ và ý thức tôn trọng tự do của người mình yêu. Vẫn biết người ở đó, nhưng chuyện tình đành để gió cuốn đi.
Từ nay, trong cõi thiêng liêng ấy
Em sống đời Em. Tôi với tôi
Có cố, cũng chẳng thêm được nữa
Cầm bằng, theo gió cuốn đi thôi
(Một đời con dâng hiến. tr. 77)
Đây là những thảng thốt yêu: Vu vơ (tr.57) – Bao giờ và chẳng bao giờ (tr.58) – Gửi về nơi xa lắm (tr.59)– Cơn mê dài (tr.66)– Có bầy én đưa tin (tr.67)– Trong khu vườn rào kín. (tr.93)…
Đây là “sống ảo” trong đời thực: Mai mốt em về nhà mẹ (tr.60) – Cây cải về trời (tr. 61) – Ơn em một đời (tr.62) – Có bầy én đưa tin (tr. 67) – Con đi học đạo xa nhà (tr.70) – Về phía giáo đường (tr.76) – Một đời con dâng hiến (trường ca. tr. 77)…
Đợi người,
ta đã quên ta
Hoá thân dưới cội sim già
trầm tư
Ơi, người khổ hạnh, chân tu
Còn bao nhiêu kiếp
thân hư hèn này?
Ta đong giọt lệ từng ngày
Gửi người trong cõi hương bay nhạt nhoà
(Trong cõi hương bay. tr.44)
Em bảo, còn lâu, lâu lắm đó
Một, rồi hai, ba, bốn, năm năm
Chúa ôi, mòn mỏi, trông chờ lắm
Chỉ biết cầu xin và lặng thầm
(Một đời con dâng hiến. tr. 77)
Rồi tất cả cũng phôi pha theo trái tim mỏi mòn:
Lượng đời đã cạn, đã vơi
Có còn chăng, chút tàn hơi não phiền
(Bao giờ và bao giờ. Tr. 101)
Thế là, bạc trắng đôi tay
Em không bên ấy. Bên này, tôi không
Con cò đi đón cơn giông
Cái tôm, cái tép một trông, hai chờ
(Con cò đi đón cơn giông. Tr. 102)
Nói là phôi pha theo thời gian, không gian và tuổi tác nhà thơ, nhưng tình yêu “thánh thiêng” ấy đã kết tình thành “Khối tình Trương Chi” làm nên châu ngọc thơ tình của Lê Đình Bảng. Về thơ tình yêu Công giáo, trước và sau ông, người làm thơ Công giáo, chưa ai có được kho tàng quý giá ấy.
- 4. Những gì còn lại
“Và Em. Lễ khấn dòng”không chỉ đem đến cho thơ ca Công giáo và thơ ca Việt những bài thơ tình rất đẹp, mà còn đọng lại trong lòng người đọc yêu thơ ca truyền thống những tứ thơ có ánh mây ngũ sắc tư tưởng Mỹ học phương đông, có cái đẹp rạng rỡ tinh khôi của Mỹ học Ki tô giáo, và có cái thơm tho đồng ruộng, vị ngọt của dòng sông và cái hồn nhiên của con tép con tôm Việt Nam…
ĐÔI BỜ
Từ Em quảy gánh phân ly
Nẻo về, mây khuất. Nẻo đi, nguyệt tà
Chốn này, thuở trước, Em qua
Đã xanh rêu lá, đã nhoà nhạt hương
Từ Em đầu hạt mưa tuôn
Từ ta, ra mấy ngọn nguồn. Vời trông
Người về, bóng núi mênh mông
Nhớ nhung, xin hẹn một lòng, hôm mai…
(Tr. 29)
TRONG CÕI HƯƠNG BAY
Người về phương ấy xa xôi
Ta heo may, suốt một đời heo may
Một canh
một khắc
một chày
Vèo trông mấy lá
dặm đầy sương sa
Đợi người,
ta đã quên ta
Hoá thân dưới cội sim già
trầm tư
Ơi, người khổ hạnh, chân tu
Còn bao nhiêu kiếp
thân hư hèn này?
Ta đong giọt lệ từng ngày
Gửi người trong cõi hương bay nhạt nhoà
CON ĐI HỌC ĐẠO XA NHÀ
. . . . . . . . . .
Ai người đập đá, nung vôi
Lắm hôm, ngồi nắng giữa trời chông chênh
Thả trôi bè chuối lên ghềnh
Cái tôm, cái tép lênh đênh, ngược dòng
(tr.70)
GỬI VỀ NƠI XA LẮM
Nhiều khi
buồn bã
ban trưa
Con vô gian cuối nhà thờ
lặng thinh
Thầm thì
làm dấu, kêu xin
Bỗng dưng
như thấy lòng mình nhẹ hơn
Ngoài trời, nằng nặng mưa tuôn
Từng cơn
rồi lại từng cơn, ướt nhoà
Mẹ ôi,
vừa mới hôm qua
Người yêu con
đã đi xa, xa rồi
Cũng đành
đôi ngả
đôi nơi
Trắng mây, bên ấy. Xanh trời, bên đây
(tr.59)
Tháng 01/ 2026
![]()