VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

Chuyên luận

VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO 

Bùi Công Thuấn

***

 

 

NỘI DUNG

  Phần I: Tổng quan (tr.2)

1.      Đạo Công giáo ở Việt Nam

2.       Những định kiến lịch sử (tr.3)

   Phần II: Những vấn đề lý luận văn học Công giáo (tr.10)

1.      Vấn đề “lý luận văn học Công giáo”

2.       Cần một hệ thống lý luận Văn học Công giáo (tr.11)

Quan điểm của Giáo hội – Mỹ học Ki tô giáo

Mục đích sáng tác và diễn ngôn 13 – Nội dung.14

Nhân vật Văn học Công giáo

Bút pháp 15 – Thể loại. 17

Phần III: Văn chương Song Nguyễn và những vấn đề

                  lý luận văn học Công giáo (tr.18)

1.      Hoàn cảnh sáng tác

2.       Văn học và hiện thực. 20

3.       Về Thi pháp.23

Phần IV.tác phẩm của Song nguyễn và văn xuôi

           Công giáo “truyền thống”.(tr.27)

1.       Văn xuôi Công giáo “truyền thống”.27

2.      Một vài đặc điểm của văn xuôi Công giáo “truyền thống”.34

3.      Tác phẩm văn học Công giáo của Song Nguyễn.35

Kết luận.(tr.36)

Giá trị của tác phẩm Song Nguyễn đối với  lý luận văn học

Công giáo và với sáng tác của nhà văn trẻ Công giáo trong thế

kỷ XXI.

 

 

Phần I: TỔNG QUAN VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ

***

  1. Đạo Công giáo ở Việt Nam [[1]]

(Tổng hợp tư liệu)

 

Theo ghi chú của Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (33, 6b), đạo Công giáo  được cho là đã truyền vào Việt Nam từ năm 1533, đời vua Lê Trang Tông.Quá trình phát triển có thể chia ra ba thời kỳ.

  1. Thời bảo trợ (1533 – 1659): việc truyền giáo do các Thừa sai người nước ngoài:

Năm 1550, linh mục Gaspar Da Santa Cruz (dòng Đa Minh, người Bồ Đào Nha) đến Hà Tiên. Năm 1588  Cha Luis de Fonseca (người Bồ) và Grégoire de la Motte (người Pháp) đến Quảng Nam, và năm 1583, Cha Bartôlômêô Ruiz (người Tây Ban Nha).

Hai giáo sĩ Francesco Buzomi (người Ý), Diego Carvalho (người Bồ) và ba trợ sĩ Dòng Tên cập bến Cửa Hàn, Quảng Nam năm 1615. Tiếp nối là François de Pina (người Bồ, 1617), Christopho Bori (người Ý, 1618),  Alexandre de Rhodes (người Pháp, 1624)…

  1. Thời Tông tòa (1659 – 1960): Giáo Hội Việt Nam được thiết lập

Giai đoạn này, giáo hội Việt Nam vẫn được cai quản trực tiếp bởi các Thừa sai người nước ngoài. Vì thế, ảnh hưởng văn hóa, tư tưởng và cung cách sống đạo của người Pháp, đối với giáo hội Việt Nam thật sâu đậm.

Ngày 09.09.1659, Tòa Thánh Vatican thiết lập hai giáo phận ở Việt Nam và đặt hai Đại Diện Tông Tòa:  Giáo phận Đàng Trong từ sông Gianh trở vào phía Nam, do Đức cha Lambert de la Motte (người Pháp ) phụ trách.  Giáo phận Đàng Ngoài từ sông Gianh trở ra miền Bắc, do Đức cha Phanxicô Pallu (người Pháp) phụ trách.

Giáo hội đã lớn lên trong những biến động lớn lao của lịch sử.

Những năm 1833 – 1861, Nhà Nguyễn, đặc biệt là các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã ban hành 53 sắc dụ cấm đạo khắt khe. Đặc biệt là chỉ dụ Phân sáp (1859-1861). Ước tính có khoảng 130.000 đến 300.000 người Công giáo (gồm cả linh mục, Thừa sai ngoại quốc và giáo dân) đã thiệt mạng do các lệnh cấm đạo [[2]].

Đến năm 1862, khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng ba tỉnh Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường cho Pháp, vua Tự Đức đã phải ngừng cấm đạo [[3]].

Đức Giám mục tiên khởi người Việt là Đức cha GB. Nguyễn Bá Tòng(11.06.1933).

  1. Giáo hội Công Giáo Việt Nam trưởng thành

Ngày 24.11.1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII tuyên bố thành lập 3 giáo tỉnh tại Việt  Nam: Hà Nội, Huế và Sài Gòn, cùng bổ nhiệm các Giám mục Chính tòa nơi mỗi giáo phận (Tông hiến Venerabilium Nostrorum).

Cả dân tộc đã chiến đấu để bảo vệ tổ quốc (chống Pháp, Mỹ), đất nước bị chia cắt bởi hiệp định Gienève năm 1954. Tình hình chính trị – xã hội hết sức phức tạp do sự can dự của các cường quốc đối với Việt Nam. Sự phát triển tôn giáo thời kỳ này cũng hết sức phức tạp.

Sau năm 1975, đất nước hòa bình thống nhất, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (Thư chung ngày 01/5/1980).

Tính đến nay (2026), Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện có 27 giáo phận (gồm 3 tổng giáo phận và 24 giáo phận) trực thuộc 3 giáo tỉnh. Cả nước có khoảng 7,57 triệu giáo dân, chiếm khoảng 6,78% dân số Việt Nam.

  1. NHỮNG ĐỊNH KIẾN LỊCH SỬ
  1. Lịch sử đã có những biến động dữ dội suốt 500 năm qua.

Trên thế giới:

Sắc lệnh Inter Caetera (năm 1493) của Giáo hoàng của Alexander VI và  Hiệp ước Tordesillas (năm 1494)[[4]] đã trao cho Tây Ban Nha cùng Bồ Đào Nha những vùng lãnh thổ rộng lớn vượt xa mọi dự đoán. Đến giữa thế kỷ XVI, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã lên vị thế siêu cường toàn cầu.

Chủ nghĩa thực dân rồi chủ nghĩa đế quốc xâm lược và thống trị, khai thác thuộc địa dẫn đến Thế chiến I, Thế chiến II, sau đó là Chiến tranh Lạnh, chiến tranh ý thức hệ.

Thuộc địa của Bồ Đào Nha ở châu Á là Ấn Độ (Goa, Daman, Diu), Trung Quốc (Ma Cao), Đông Timor. Thuộc địa của Anh là: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Malaysia, Singapore, Myanmar, Hồng Kông và Brunei…Thuộc địa của Hà Lan là Indonesia và các trọng điểm giao thương ở Nhật, Ấn Độ Sri Lanka, Iran

Không phải vô tình mà các Thừa sai đầu tiên đến Việt Nam là người Bồ Đào Nha, như linh mục Gaspar da Santa Cruz , Luis de Fonseca, Diego Carvalho, François de Pina…  Và không phải vô tình mà Thánh bộ Truyền giáo ban hành Huấn dụ 1659 để “giải thoát Giáo Hội địa phương khỏi quyền bảo trợ Bồ Đào Nha”[[5]].

Ở Việt Nam, từ 1533 đến nay:

Chiến tranh Lê – Mạc (1533-1593), rồi Trịnh – Nguyễn phân tranh (1627-1772), đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài và Đàng Trong. Phong trào Tây Sơn (1771–1802) đánh bại quân Thanh xâm lược (1789). Nhà Nguyễn (1802) thống nhất đất nước nhưng hèn yếu và mắc sai lầm để mất nước vào tay thực dân Pháp (Hiệp ước 1862). Cả dân tộc tiến hành đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược gần 100 năm để giành lại nền độc lập (Cách mạng tháng Tám/1945). Ngay sau đó, dân tộc lại tiếp tục hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ bảo vệ tổ quốc (1946 -1975). Từ năm 1975 đến nay là thời kỳ thời kỳ hòa bình, thống nhất và Đổi mới, Việt Nam hội nhập toàn cầu hóa và tiến lên công nghiệp hóa.

Trong tiến trình lịch sử đó, người Công giáo với tư cách công dân, chắc chắn đã tham gia tích cực vào vận mệnh chung của dân tộc. Nguyễn Trường Tộ là một điển hình. Trong vòng 10 năm (1861 – 1871), ông đã gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế 58 bản điều trần, đề xuất việc canh tân đất nước ở nhiều lĩnh vực. Nhưng Vua Tự Đức vì nghi kỵ, đã không quan tâm đến kế sách tâm huyết của ông. 

2.Những định kiến

Nhìn suốt quá trình phát triển đạo Công giáo ở Việt Nam,  đã có những định kiến, mà cho đến nay, vẫn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực.

Định kiến thứ nhất: Đạo Công giáo là “Tà đạo”, đạo nước ngoài, do người Tây Dương lén lút đem tới, dạy những điều dối trá trái với luân thường đạo lý. Người Công giáo bị coi là một bộ phận đứng bên lề dân tộc, sống tách biệt với cộng đồng, khác biệt về văn hóa, khác biệt về lối sống, sinh hoạt; là bộ phận làm suy đồi phong hóa, luật pháp và quyền lực nhà nước phong kiến.

Đây là chiếu chỉ ngày 06.1.1833 của vua Minh Mạng:

Minh Mạng Thánh tổ Hoàng đế, có lời cùng toàn thể thần dân.

Đã từ lâu người Tây Dương đem vào truyền bá đạo Datô, lừa dối ngu dân, dạy chúng về thiên đường, địa ngục. Chúng không thờ Phật, chẳng thờ tổ tiên, thiệt là quân vô đạo. Hơn thế nữa, chúng dựng nhà thờ riêng, trai gái ra vào lẫn lộn, mục đích là để quyến rũ đàn bà con gái, chúng còn móc mắt người ốm đau để làm bùa ngải. Thật là một điều trái với luân thường đạo nghĩa.”

“Vì vậy trẫm truyền cho tất cả những ai theo tà đạo này từ quan chí dân, nếu còn biết sợ quyền uy trẫm, thì hãy thật lòng cải tà quy chính. Các quan phải kiểm soát các đạo đổ trong địa hạt mình xem chúng có tuân thượng lệnh hay không, và bắt chúng giày đạp thập tự. Các đạo đường, đạo quán phải triệt hạ hết. Sau này, còn ai theo đạo ấy thì phải nghiêm trị, vì trẫm muốn tiêu diệt tận gốc tà đạo. Đó là thánh ý của trẫm, thần dân phải nghe theo và thi hành. Ngày 12 tháng 11 âm lịch, năm thứ 13 của triều đại trẫm” (ký tên và đóng ấn son) [Nguồn: Đại Nam thực lục-phần Đệ nhị kỷ, quyển XCV]

***

Đây là kiến nghị thượng quan Lễ Bộ năm 1826.

Kiến nghị này bộc lộ cái nhìn, thái độ của giới trí thức phong kiến về đạo Gia-tô. Họ coi  Ki-tô giáo như một thực thể biệt lập với dân tộc, như một “quốc gia trong một quốc gia”, dựng nhà thờ riêng, “không cúng tế tổ tiên”; đặt ra luật lệ riêng, lập tòa án riêng, suy tôn một chủ tể riêng. “Đạo Giatô là một cản trở cho tất cả những canh tân…”

(Xin trích):

“Hết lòng kính sợ, chúng thần khấu đầu dâng kiến nghị này. Dám xin hoàng thượng để tâm đến việc tái lập chính đạo để dân chúng lớn bé được nhờ bởi vì tà đạo lợi dụng và lừa dối dân chúng, làm sai lạc chân đạo tự nhiên……Đạo Giatô là đạo giả dối và nghịch lại với đạo thật vì đạo khuyến dụ dân chúng, lừa dối và lạm dụng lòng đơn thành của người dân, dùng những hình phạt hỏa ngục để làm kinh sợ người yếu đuối, dùng niềm vui nước trời để thu hút người khác. Đạo còn sử dụng luật riêng, tòa án riêng xét xử các vụ rắc rối. Những người theo đạo này hội họp nhau cúng tế và thờ lạy, hàng ngàn người nối tiếp nhau vào tôn thờ như tôn thờ chủ tể của quốc gia vậy. Họ công bố con đường họ theo là thánh và tôn vinh những người bước theo đường ấy. Từ khi đạo này xâm nhập vào đất nước, trong khắp các tỉnh có hàng ngàn người tin theo. Những người đã tin theo thì cuồng nhiệt như là mất trí, chạy đi đó đây như là người điên.

Các tín đồ của đạo này không tôn kính các thần minh, cũng không cúng tế tổ tiên. Họ giảng đạo, học hỏi và hội họp như là một thói quen. Càng ngày tín đồ đạo này càng đông, họ xây thêm nhiều nhà thờ mới, những cái gai chướng này lan tràn khắp mọi nơi, không có xó xỉnh nào mà không bị tiêm nhiễm.

Chính vì lẽ đó, chúng thần ngước trông lên hoàng thượng khẩn xin ngài chữa trị các tệ đoan này. Lời của ngài như ngọn cờ triệu tập hàng hà sa số nhân dân về một mối, từ đó các phong tục và luật lệ quốc gia sẽ thống nhất, và các lời nói hành động sẽ hòa hợp với nhau, tất cả những cái hay cái phải sẽ được tuân theo, và thế hệ hiện tại cũng như mai sau sẽ tuân giữ các lề luật. Như thế những con đường sai trái được uốn nắn, sự dữ được thay thế bằng điều lành. Tất cả sẽ được thu họp về một mối, đó là đạo của vua, của thuần phong mỹ tục và khắp mọi nơi đều khuôn mình theo. Nhưng đạo Giatô là một cản trở cho tất cả những canh tân hoàn thiện, mặc dù đã cấm nhưng không tiêu diệt được. Đạo Khổng đã có từ lâu đời thế mà có nhiều người đang tâm bỏ để theo đạo Giatô là đạo cấm dân chúng theo đạo Khổng…

… Vi thế khi nghiên cứu sự việc, chúng thần xin hoàng thượng ban lệnh cấm đạo tại khắp các làng tỉnh và huyện trong nước để mọi người biết rằng các đạo trưởng và Kitô hữu Âu châu đang ở bất cứ nơi nào đều phải trở về nước của họ. Thời hạn là ba tháng, khi đáo hạn họ không được phép ở lại nữa. Còn về các nhà thờ phải triệt hạ, phải đốt các sách đạo, từ rày về sau cấm dân chúng không được học hỏi tà đạo này nữa. Sau ba tháng, nếu phát giác được người Âu châu còn trốn tránh trong nước thì: người có công tố giác sẽ được hưởng tất cả tài sản của người chứa chấp đạo trưởng Âu châu trong nhà. Ngoài ra, người chứa chấp cũng như lý trưởng sẽ bị khép vào tội đại nghịch. Nếu người Âu châu vẫn lén lút giữa dân chúng và khuyến dụ họ theo tà đạo thì sẽ áp dụng luật của người Trung Hoa. Hơn nữa nếu các quan có lỗi vì biếng nhác sẽ bị đưa ra tòa xét xử như các tội phạm để sự việc được phân minh và mọi việc được tiến hành đồng đều. Vì nếu áp dụng luật nghiêm khắc thì có hy vọng đưa được dân chúng về đường lành và chân đạo được tồn tại. Phần chúng thần là những người kém cỏi đã xét như thế có đúng hay sai, dám xin hoàng thượng cứu xét”[[6]].

Những khác biệt về chính trị, tư tưởng, văn hóa, lối sống sinh hoạt dẫn đến sự chống đối người Công giáo như một tất yếu lịch sử. Bởi vì, theo Giám mục Micae Hoàng Đức Oanh: “Cho đến năm 1659, tất cả các vị thừa sai đến Á đông đều buộc phải theo khuôn khổ chế độ bảo trợ và nhận lãnh nơi các Giám mục Bồ ở Á châu (Goa, Macao)  các thẩm quyền thiêng liêng cần thiết…Chế độ bảo trợ (Patronato, Padroado) chế độ liên hiệp chặt chẽ giáo quyền với chính quyền như thế, dù có vài điểm lợi, vẫn sinh ra lắm bất tiện. Ngưởi Á châu tòng giáo đều đương nhiên thành công dân Bồ hoặc Tây Ban Nha và bó buộc phải thay đổi nếp sống”[[7]].

Chẳng hạn, về tôn giáo – tín ngưỡng, ở Việt Nam có đạo Phật, đạo Nho, đạo Lão; tín ngưỡng dân gian (bên lương) thờ trời đất (thờ Thiên), thờ ông bà (đạo Hiếu), thờ các thần linh, hiện diện ở khắp cả nước (Ông Táo, ông Địa, tín ngưỡng thờ Mẫu, Thành hoàng, lễ hội nghinh Ông…). Các tôn giáo – tín ngưỡng này có những sinh hoạt lễ hội hàng năm ở khắp các địa phương, trở thành đời sống tâm linh Việt. Đạo Công giáo vào Việt Nam, đem theo những quan niệm khác biệt về Thần. Chỉ một Thiên Chúa duy nhất được thờ, các “thần” khác đều là ma quỷ, không thờ cúng ông bà; biết tổ phụ Abraham nhưng không giỗ tổ Hùng Vương ngày 10/3 al; ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp làm khác hẳn người bên lương. Sinh hoạt trong các làng Công giáo, hoàn toàn khác biệt với làng bên lương, dẫn đến những kỳ thị.

Về chính trị, các vua nhà Nguyễn coi đạo Nho là “Chính đạo” và coi đạo Gia tô là “Tà đạo”, bởi đạo Nho là ý thức hệ xây dựng và duy trì quyền lực của các triều đại phong kiến. Ý thức ấy là: trên là Thiên Mệnh, Vua là con trời (Thiên tử), thay trời hành đạo (“tế Thiên hành đạo”). Vua là người nắm quyền lực tuyệt đối, cha truyền con nối đời đời, “vạn tuế, vạn vạn tuế”.  Vua chúa phong kiến không thể chấp nhận có một Thiên Chúa có quyền trên tất cả. Họ giữ “đạo ông bà” là để được thờ phụng mãi mãi trong các lăng miếu, đền đài (các vua nhà Nguyễn đều xây lăng tẩm cho mình). Họ coi trọng tục đa thê là để có con “nối dõi tông đường”.

Cho nên vua Gia Long thất vọng khi thấy hoàng tử Cảnh theo Giám mục Bá Đa Lộc học 6 năm ở Pháp về không chịu lạy bàn thờ tổ tiên. Còn vua Minh Mạng thì hoàn toàn hiểu sai về đạo: “đạo Datô, lừa dối ngu dân, dạy chúng về thiên đường, địa ngục. Chúng không thờ Phật, chẳng thờ tổ tiên, thiệt là quân vô đạo.”

Những định kiến ấy đi đến kết luận trong nhiều chỉ dụ cấm đạo là: Gia tô là “tà đạo”, bằng mọi giá, cần phải “tiêu diệt tận gốc”. Ngoài các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cấm đạo, phong trào Văn Thân với khẩu hiệu “bình Tây, sát tả” cũng tàn sát người Công giáo, ước tính chỉ riêng phong trào Văn Thân đã sát hại trên dưới 60,000 giáo dân Công Giáo [[8]].

 Nguyên nhân sâu xa có thể là việc dạy giáo lý theo cách của Alexandre de Rhodes được ghi trong Phép giảng tám ngày của (xuất bản 1651). Tính đến thời Minh Mạng, đã gần 200 năm. có những nội dung sai lạc của Rhodes đã “thấm” vào xã hội Việt Nam. Rhodes xúc phạm nặng nề đến Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo (xem chương: “Ngày thứ tư: Những đạo vạy”), bôi bác tục thờ cúng cha mẹ của người Việt. Rhodes cũng có nhiều diễn giải Kinh thánh không đúng với lời dạy của giáo hội. Ông kể nhiều phép lạ như để mê hoặc giáo dân (một hình thức mê tín mới), Rhodes cổ vũ say mê cho việc chết vì đạo (một hình thức bạo động…).

Đây là lời của Rhodes nói về Phật Thích Ca: “Mà trong nhiều quỷ dạy nó, thì có hai quỷ, tên là Alala và Calala, quen làm thầy nó liên, mà nó thì ngồi giữa hai thầy quỷ ấy, mà dạy nó dầu hết chớ tin gì có Chúa trời, cùng đặt tên nó là Thích Ca Vậy thì ta làm cho Thích Ca, là thằng hay dối người ta, ngã xuống, thì mọi truyện dối trong đạo bụt bởi Thích Ca mà ra, có ngã với thì đã tỏ”.

Rhodes gọi Phật Thích Ca là học trò của ma quỷ thì chuyện hoàng tử Cảnh không chịu lạy “quỷ” là có thể hiểu được. Lưu ý rằng đối tượng của Phép giảng tám ngày gồm cả hai giới: tín hữu bình dân và giới Nho học.

Một nguyên nhân khác gây ngộ nhận là cách sinh hoạt của người Công giáo:

Chiếu chỉ 6.1.1833 của vua Minh Mạng ghi nhận: “chúng dựng nhà thờ riêng, trai gái ra vào lẫn lộn, mục đích là để quyến rũ đàn bà con gái, chúng còn móc mắt người ốm đau để làm bùa ngải. Thật là một điều trái với luân thường đạo nghĩa.”

Chi tiết “quyến rũ đàn bà con gái”là sự suy diễn của vua quan nhà Nguyễn khi quan sát các giáo dân nữ đến xưng tội với các linh mục. A, Rhodes kể:

“Chúng tôi làm hết các việc thông thường như dạy giáo lý, rửa tội và giải tội cho giáo dân. Lương dân cũng gây một chút xôn xao, nhất là về việc giải tội cho nữ giới. Họ không chịu để chúng tôi thừa hành trong thầm kín, mặc dầu là ở nơi công và trước mặt mọi người, và giữa họ với chúng tôi (theo tục lệ) vẫn có tấm phên ngăn cách. Có lần chúng tôi không thể ngăn cấm lính mà không làm xôn xao, chúng vào nhà thờ và tới gần tòa giải tội để nghe trong thầm kín của phép giải tội. Để tránh khó khăn, chúng tôi bàn nhau dùng hai nhà liền kề của giáo dân, trong một nhà để cho phái nữ tới xưng tội, còn chúng tôi thì ở trong một nhà thứ hai để nghe xưng tội…”( A. de Rhodes, Histoire du Royaumede Tunquin, Lyon 1651tr. 133-134)[[9]].

Định kiến thứ hai: Đạo Công giáo tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược.

Điều này là quy kết chính trị của những người chống Công giáo. Người ta căn cứ vào một vài hiện tượng cụ thể rồi từ đó khái quát quy kết bản chất vấn đề. Chẳng hạn:

Trường hợp thứ nhất: Thánh Cố Du (Joseph Marchand Du) [[10]] Bị vua Minh Mạng kết tội theo Lê Văn Khôi làm phản. Ngài bị xử bá đạo 30/11/1835 tại Huế.

Trường hợp thứ hai: “Sau khi các Thừa sai người Pháp bị bắt giam ở Huế năm 1843  giám mục Lefèbre bị bắt ở cửa Cần Giờ (1846) và thừa sai Duclos (Lộ) bị chết trong trại giam năm 1846, quân Pháp được lệnh bắn phá cảng Đà Nẵng ngày 15/4/1847. Lập tức vua Thiệu Trị ban hành sắc lệnh chống Công giáo ngày 03/5/1847 và người ta liên kết việc theo đạo Công giáo với việc làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc. Nhiều nhà Nho đã tuyên truyền với dân chúng luận điệu này và không ít đồng bào đổi mối thiện cảm với người Công giáo trước đây thành ác cảm và hận thù kẻ phản quốc, nhất là khi người Pháp đánh chiếm các tỉnh Nam Kỳ”[[11]]

Trường hợp thứ ba: một số sử gia đã ghi nhận có những Giám mục Thừa sai người Pháp tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt Nam như: P. de Béhaine (Bá Đa Lộc), Lefèbvre, Pellerin, Retord, Puginier…Đó là những quan hệ cá nhân.

Trong cuốn sách Thập giá và lưỡi gươm [[12]], Lm. Trần Tam Tỉnh viết rằng, Giám mục Puginier đã ban phép lành cho linh mục Trần Lục khi  Cụ Sáu dẫn 5000 giáo dân đi tiếp viện cho quân Pháp đánh chiến khu Ba Đình của Đinh Công Tráng. Nhưng Trần Tam Tỉnh không có chứng liệu lịch sử nào đủ để khẳng định việc Giám mục Puginer tiếp tay cho thực dân Pháp.

Louis-Eugène Louvet nhận xét về Giám mục Puginer: “…tôi tin rằng ở Bắc kỳ, ảnh hưởng đạo đức của đức cha Puginier, ảnh hưởng vô biên trên các giáo dân và không thể chối cãi trên các quan lại, ngay cả với những người hiềm khích nhất đối với lý tưởng Pháp, cũng chẳng kém phần hiệu quả cho sự bình định mau mắn nơi xứ sở này, nếu người ta đã theo các lời cố vấn và chú trọng hơn đến các ý kiến vừa chắc chắn vừa vô tư của ông”[[13]].

Đó là những trường hợp riêng lẻ, không phải là chủ trương của MEP hay của Vatican. Xin lưu ý rằng, Huấn Thị năm 1659 [[14]]của Thánh bộ Truyền bá Đức tin, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam 200 năm (1858),  đã dạy rất kỹ các thừa sai khi truyền giáo ở Việt Nam như sau:

«Chư huynh hãy hết sức lánh xa chính trị và việc nhà nước. Đừng bao giờ nhận gánh một phần vụ hành chánh nào mặc cho người ta thỉnh cầu và làm phiền toái chư huynh bằng những lời khẩn khoản thiết tha. Việc này, Thánh Bộ đã luôn luôn cực lực nghiêm cấm rõ ràng và vẫn sẽ tiếp tục cấm ngặt ; cho nên, chư huynh và các cộng sự phải rất mực thận trọng. » (Phần III, Đoạn 10).

Huấn thị cũng dạy: “Chư huynh hãy giảng dạy dân chúng vâng phục chính quyền dù họ xấu cũng mặc (1 Pr 2, 18), và vừa âm thầm vừa công khai chư huynh hãy hết lòng cầu nguyện cho họ được thịnh vượng và phần rỗi”…”Chư huynh đừng bao giờ muốn sửa đổi, đừng tìm lý lẽ nào để buộc dân chúng sửa đồi những phép xã giao, tập tục, phong hóa của họ trừ khi nó hiểu  nhiên mâu thuẫn với đạo thánh và luận lý: có gì vô lý bỉ ổi hơn  mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho dân Á đông chăng? (bản dịch của GM Micae Hoàng Đức Oanh).

Vì thế, những quan hệ của một vài cá nhân Thừa sai vào sách lược của thực dân Pháp không thể được coi là đạo Công giáo tiếp tay cho thực dân Pháp xâm lược.

Cũng lưu ý rằng, việc Pháp xâm lược Việt Nam là xu thế thời đại của chủ nghĩa thực dân.

Thực dân Pháp xâm lược Campuchia năm 1863 và Lào năm 1893.

Thực dân Anh xâm lược Ấn Độ (1842), Trung Quốc (chiến tranh nha phiến), Malaysia (1771), Myanmar (1885); Australia và New Zealand từng là thuộc địa của Anh.

Hà Lan xâm lược Indonesia từ 1602, Đài Loan (1624), Malaysia (1641).

Trung quốc cũng từng bị 5 quốc gia xâu xé từ giữa thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20: Anh (1840), Pháp (từ 1884), Đức (1897), Nga (1897), Nhật Bản (từ 1894)

Các vua chúa Nhà nguyễn dùng chính sách bế quan tỏa cảng, lại yếu kém về ngoại giao, quân sự, nên đã bán nước vào tay Pháp. Hiệp ước 1862 là một minh chứng cụ thể. Hai quốc gia Cambuchia và Lào đều là Phật giáo nhưng vẫn bị Pháp xâm lược.

Hãy nhìn Thái Lan và Nhật Bản. Chính sách ngoại giao khôn khéo, cùng với những cải cách hiện đại đã giúp Thái Lan và Nhật Bản  không bị các nước phương tây xâm lược.

Hậu quả của định kiến này còn lâu dài trong xã hội Việt Nam cho đến 1975.

Từ kháng chiến chống Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là ờ miền Nam giai đoạn 1954-1975, tình hình rất phức tạp. Khi chiến tranh ngày càng leo thang, quân ngoại nhập (Mỹ, Hàn, Thái Lan, Úc) đổ vào miền Nam và Mỹ ném bom tràn qua vĩ tuyến 17 đến Hà Nội…Tôn giáo bị cuốn vào vòng xoáy chính trị khốc liệt. Phật giáo đấu tranh lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng hòa. Người Công giáo miền  Bắc di cư vào Nam theo hiệp định Gienève bị coi là theo “Mỹ-Ngụy”.  Sắc lệnh chống chủ nghĩa cộng sản (Decree against Communism) do Giáo hoàng Pio XII phê chuẩn ngày 01/07/1949, quy định những người Công giáo tự nguyện tuyên xưng học thuyết cộng sản vô thần là bội giáo và phải chịu vạ tuyệt thông tiền kết… đẩy người Công giáo Việt Nam vào thế rất khó xử. Rất may là Công đồng Vaticano II (1962-1965) do Giáo hoàng Gioan XXIII khởi xướng đã đưa giáo hội Công giáo toàn cầu thoát khỏi những ảnh hưởng chính trị thời đại, xóa bỏ những định kiến lâu dài đối với Công giáo Việt Nam.

Năm 1980, trong Thư chung, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra đường hướng mục vụ là: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”, giúp giáo dân hội nhập với dân tộc trong đất nước hòa bình, thống nhất.

***

Phần II.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VĂN HỌC CÔNG GIÁO

***

1.Vấn đề “Lý luận văn học Công giáo”.

            Cho đến nay, Lý luận văn học Công giáo chưa trở thành một bộ môn khoa học có tính học thuật được nghiên cứu. Bởi Văn học Công giáo Việt Nam là một nền văn học tự phát, ban đầu văn chương là công cụ truyền giáo. Văn học Công giáo không phải là một bộ môn nghệ thuật của giáo hội dùng trong phụng vụ như Thánh ca, Mỹ thuật thánh, Kiến trúc thánh (thí dụ các Vương cung thánh đường)…

Một vài nhà nghiên cứu văn học Công giáo có đề cập đến những vấn đề lý luận văn học, nhưng lý luận văn học Công giáo không được xem như một nhánh của lý thuyết văn học. GS Nguyễn Văn Trung  có Lược khảo văn học I, II, III. (xuất bản 1963-1968). Nhà nghiên cứu Võ Long Tê có Lịch sử văn học Công giáo (1965). GS Thanh Lãng (Các công trình nghiên cứu văn học Việt Nam); nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Vy Khanh (Canada), có đề cập một vài vấn đề lý luận trong công trình Sơ thảo Văn học Công giáo Việt Nam (Nguyễn Publishing, Toronto 2023).

Thời kỳ đầu, văn học Công giáo được sáng tác chỉ có mục đích loan báo Tin Mừng. Chẳng hạn, Các Thánh Truyện (1646), tác phẩm văn xuôi chữ Nôm của Majorica. Phép giảng tám ngày (1651) của A, Rhodes, hoặc Sấm Truyền Ca (1670) của Lữ Y Đoan (kể lại truyện Cựu Ước bằng thơ),… Đến Phelippe do Rosario Bỉnh mới có những sáng tác thơ văn bằng chữ Quốc ngữ ở những thể loại khác (những bài thơ trong Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo. 1793-1789, Truyện Annam Đàng Ngoài, 1822).

Đến đầu thế kỷ XX, văn học Công giáo mới xuất hiện truyện dài Quốc ngữ viết theo hình thức truyện phương Tây. Nhưng đó là những tiểu thuyết thế tục, có yếu tố tôn giáo. Thí dụ: Truyện Thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản, Truyện ông Gioang Ngô Kim Thạch” của Charles Ngọc Minh. Phêrô Nghĩa (Lm Lê Thiện Bá) có các tiểu thuyết: Mưa Mai nắng chiều (1928), Đôi bước lưu ly (1928), Ôi là tự do (1931), Cha giết con (1932), Nhị độ mai (1933), Biết Ai Thượng lưu (1942). J. L. v. Đ (Jacques Lê Văn Đức) có Trung và nịnh (1917), Tìm Của Báu (1925). Bùi Minh Nên có tiểu thuyết Bước đường gay hiểm (1926); Lưu Thanh có tiểu thuyết Thần Công Lý (1934)…

Từ sau Nam Kỳ Địa Phận đến đầu thế kỷ XXI, ở miền Nam Việt Nam, và sau 1975 ở hải ngoại, nhiều người Công giáo viết văn, song tác phẩm của họ là văn chương thế tục, không phải tác phẩm văn học Công giáo. Chẳng hạn: Thảo Trường (Trần Duy Hinh) có Thử lửa (1962), Chạy trốn (1965), Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp (1966)…; Nguyễn Việt Hà có Cơ hội của Chúa (1999), Khải huyền muộn (2010), Ba ngôi của người (2014),…

Những năm gần đây, xuất hiện một thế hệ tác giả Công giáo mới như Lm Nguyễn Đức Thông, Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Cao Gia An, Lm Khắc Đỗ. Lm Đình Chẩn, Lm Cát Đen;  tác giả Teresa Nguyễn Phương Thảo (Canada), Vinh Kiu, Hải Miên, Nt Xuân Cát và các nhà nghiên cứu văn học Công giáo trẻ: NCS Maria Đinh Ngọc Oanh CMR, Ths Đặng Thị Lĩnh FMI, Ths Nguyễn Tấn Tài đã vận dụng các lý thuyết văn học đương đại để nghiên cứu Văn học Công giáo (nhưng cũng chỉ ở mức độ vận dụng lý thuyết văn học).

Thực ra, những vấn đề lý luận Văn học Công giáo cũng là những vấn đề chung của lý luận văn học, song cần khu biệt với lý luận văn học của các dòng văn học xây dựng trên nền tảng các hệ tư tưởng khác. Chẳng hạn, Mỹ học Kitô giáo khác với Mỹ học Thiền, Mỹ học phương Tây, Mỹ học Mác – Lênin thế nào? Hoặc, mục đích sáng tác của văn học phong kiến trung đại, văn học cách mạng, Văn học Công giáo khác nhau thế nào? Đặc biệt, Văn học Công giáo Việt Nam có thi pháp riêng không? Và Văn học Công giáo Việt Nam có đóng góp gì cho lịch sử, và văn học dân tộc?

Một vấn đề cấp thiết cho việc nghiên cứu đến nay vẫn chưa được xác lập là: Thế nào là tác phẩm văn học Công giáo? Thế nào là nhà văn Công giáo? Vì thế, các công trình nghiên cứu Văn học Công giáo cho đến nay, vẫn là những góc nhìn riêng lẻ, có tính “dò đưởng”. Các nhà nghiên cứu “thử đặt vấn đề”, để chờ có những nghiên cứu có giá trị khoa học hơn. Đây là một việc lâu dài. Ngay cả Viện Văn họcHội đồng Lý luận Văn học Nghệ thuật Trung ương đã đề ra kế hoạch nghiên cứu, đúc kết một hệ thống lý luận văn học của riêng Việt Nam, nhưng đến nay, sau nhiều chục năm, vẫn chưa thể có một công trình như mong muốn.

  1. Cần có một “hệ thống lý luận văn học Công giáo”.

             Lý luận văn học đã bàn đến nhiếu vấn đề căn cốt của văn học. Đó là Mỹ học, là nghệ thuật, bản chất của văn chương? Tại sao người ta sáng tác văn chương? Quá trình sáng tạo diễn ra thế nào? Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm, người đọc? Về thể loại văn học? Về chức năng của văn học? Về thi pháp. Hoặc đi sâu hơn, người ta xác lập những đặc điểm của ngôn ngữ văn chương, tư tưởng, diễn ngôn, nhân vật, bút pháp, phong cách…

Ngày nay đã có rất nhiều lý thuyết văn học và phê bình văn chương khám phá nhiều giá trị của văn học. Chẳng hạn: chủ nghĩa hình thức, phê bình mới Anh-Mỹ, Ký hiệu học, Thi pháp học, Phân tâm học, phê bình Marxist, Cấu trúc luận, Giải cấu trúc, Phê bình sinh thái, Lý thuyết trò chơi (Game Theory)…

Lý luận văn học Công giáo tất nhiên nằm trong nền lý luận văn học chung của nhân loại từ Aristotle (384-322 TCN) với tác phẩm Nghệ thuật thi ca (tiếng Hy Lạp: Peri poietikes) đến những quan điểm của chủ nghĩa Hậu hiện đại hôm nay. Nhưng cần xác lập những đặc trưng riêng của văn học Công giáo

  1. Quan điểm của giáo hội về văn chương

Trong Thư gửi văn nghệ sĩ năm 1999, Đức Gioan Phao lô II chia sẻ với văn nghệ sĩ

nhiều điều về sứ mệnh của nghệ thuật và “ơn gọi” của người nghệ sĩ.

Ngài kêu gọi: Hỡi các nghệ sĩ trên thế giới, ước gì mọi nẻo đường khác nhau mà quý

 vị đang đi đều dẫn tới đại dương mênh mông của cái đẹp…”; “ước gì nghệ thuật sẽ giúp quý vị xác nhận rằng một cái đẹp chân thật, cũng tựa như tia sáng của Thánh Thần Thiên Chúa, sẽ làm biến đổi vật chất, mở linh hồn con người cho cảm nhận được cõi đời đời”.[[15]]

Ngài nói đến nhiệm vụ của nghệ thuật:

“Để truyền đạt sứ điệp mà Đức Kitô đã giao cho mình, Giáo Hội cần đến nghệ thuật. Nghệ thuật có nhiệm vụ là làm cho thế giới tinh thần, thế giới vô hình, thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay”

Ngài đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của văn chương:

“Giáo Hội đặc biệt cần đến những người có thể làm công tác ấy trong lãnh vực văn chương và tạo hình, dùng được những khả năng vô tận của các hình ảnh và sức mạnh biểu tượng của chúng. Chính Đức Kitô cũng đã sử dụng rất nhiều hình ảnh trong các bài giảng của Ngài, cho theo kịp với ước nguyện của Ngài là trở thành hình tượng của Thiên Chúa vô hình, qua mầu nhiệm Nhập Thể”.

Và “ơn gọi” của người nghệ sĩ:

“Người nghệ sĩ có một quan hệ rất đặc biệt với cái đẹp. Nói cho đúng, cái đẹp là ơn gọi Tạo Hóa đã ban cho người nghệ sĩ…”

…Những ai nhận thấy nơi mình có tia sáng thần linh ấy, tức là ơn gọi làm nghệ sĩ (làm thi sĩ, văn sĩ, nhà điêu khắc, nhà kiến trúc, nhà nhiếp ảnh, nhạc sĩ,…) cũng sẽ cảm thấy mình có bổn phận không được để hoang phí tài năng ấy mà phải phát triển, để đem ra phục vụ nhân loại”.

“Giáo Hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”

Những chia sẻ của Đức Gioan Phaolô II  gợi mở nhiều ý nghĩa mới mẻ có tính lý luận nền tảng cho sáng tác của văn học nghệ thuật Kitô giáo. Chẳng hạn, nghệ sĩ là “ơn gọi”, họ có tia sáng thần linh, vì thế có bổn phận đem tài năng phục vụ nhân loại. Nghệ thuật có nhiệm vụ “làm cho thế giới Thiên Chúa trở nên có thể cảm nhận được và trở nên hấp dẫn càng nhiều càng hay”.

Những quan điểm này chỉ ra sự khác biệt rất lớn giữa văn học Công giáo với văn học thế tục.

  1. Mỹ học Kitô giáo [[16]].

Quan niệm về Cái Đẹp là tư tưởng cốt lõi cho sáng tác nghệ thuật. Kitô giáo có một

kho tàng thánh ca đồ sộ lan tỏa trên toàn cầu, có một nền kiến trúc thánh hiện diện ở nhiều quốc gia trên thế giới. Mỹ thuật thánh lấy cảm hứng từ Kinh Thánh, khác hẳn với hội họa thế tục. Và bộ Kinh Thánh (gồm Cựu Ước và Tân Ước) được coi là tác phẩm văn chương vĩ đại của mọi thời.

Tất cả những thành tựu nghệ thuật ấy đều có chung tư tưởng mỹ học. Sách Sáng thế nói rõ rằng: Thiên Chúa sáng tạo nên mọi sự, tất cả đều tốt đẹp: Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp!”(St 1, 31). Và Cái Đẹp trọn hảo là Đức Giêsu. “Khi Đức Giê-su vừa chịu phép rửa xong, Người lên khỏi nước. Lúc ấy các tầng trời mở ra; Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán rằng: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,13).

Hạt nhân của tư tưởng Mỹ học Kitô giáo là cái nhìn về con người. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27). Con người là chi thể của Đức Kitô: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15,5). Và con người ở với Thiên Chúa. Đức Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “để tất cả nên một, như, lạy Cha, Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17, 21).

Nhà thơ Xuân Ly Băng quan niệm rằng: “Phải khẳng định rằng thơ là để nói lên cái đẹp là Thiên Chúa. Những gì thuộc về Thiên Chúa đều đẹp. Chúng ta ca tụng Thiên Chúa bằng cái đẹp thể hiện qua văn chương, qua thơ ca” [[17]] . Nhà thơ Trăng Thập Tự khám phá vẻ đẹp của Đức Giêsu trong vườn cây dầu (chùm thơ Ghetsêmani). Đó chính là ý thức sáng tạo dựa trên tư tưởng Mỹ học Kitô giáo.

Mỹ học Kitô giáo là tư tưởng cốt lõi của một tác phẩm văn học Công giáo. Điều này giúp phân biệt tác phẩm văn học Công giáo với những tác phẩm được viết bằng những tư tưởng Mỹ học khác.

Chẳng hạn Mỹ học Thiền là tư tưởng cốt lõi của tác phẩm văn học Phật giáo (Thơ Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, ca từ của nhạc Trịnh Công Sơn…).

Mỹ học của văn học phong kiến trung đại là tư tưởng Nho giáo. Ở Việt Nam là tư tưởng tam giáo đồng nguyên. Nhân vật chính là người quân tử, tư tưởng chính là thuyết Thiên mệnh, nội dung chính là đạo “Trung, Hiếu” (Nguyễn Công Trứ: “Có trung hiếu nên đứng trong trời đất/ Không công danh thà nát với cỏ cây”-Phận sự làm trai).

Hoặc, Mỹ học Mác – Lênin là phẩm chất của văn học cách mạng. Hiện thực được nhìn qua ý thức đấu tranh giai cấp. Công, nông, binh là lực lượng quần chúng cách mạng, cũng là nhân vật trung tâm (Cái Đẹp) của văn học cách mạng. Tác phẩm được viết để giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

  1. Mục đích sáng tác, diễn ngôn

Mục đích sáng tác chi phối toàn bộ quá trình sáng tác, là điểm đến cuối cùng cho

sáng tạo nghệ thuật. Nó trả lời câu hỏi: “Viết cho ai? Viết để làm gì?”.

Tác phẩm văn chương được kiến tạo bằng ngôn ngữ, vì thế nó có mọi chức năng của ngôn ngữ như: chức năng giao tiếp, chức năng tư duy (tư tưởng), chức năng hành động (Đức Chúa phán một lời thì có mọi tạo vật), chức năng nghệ thuật (thơ ca…), chức năng cá nhân hóa (phong cách)… Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà ngôn ngữ là quyền lực (M.Foucal). Vì thế, thông qua các diễn ngôn để hiểu rõ mục đích của tác giả là yêu cầu của người đọc tác phẩm.

Văn học phong kiến rao truyền đạo lý “Trung, hiếu” (Nguyễn Đình Chiểu: “Trai thời trung hiếu làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”-Lục Vân Tiên). Thơ ca lãng mạn phô diễn Cái Tôi cá nhân vị kỷ. Văn học cách mạng giáo dục chủ nghĩa anh hùng cách mạng.

Tác phẩm văn học Công giáo có mục đích và diễn ngôn theo lời dạy của giáo hội:

“Giáo Hội luôn nhờ đến khả năng sáng tạo của các nghệ sĩ để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”(Thư gửi văn nghệ sĩ năm 1999-Đức Gioan Phaolo II, đd)

Như vậy, tác phẩm văn học Công giáo không có mục đích của văn chương thế tục (như văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn, văn học cách mạng, văn chương thị trường…). Diễn ngôn của nhà văn Công giáo không được trái với chân lý của Kinh Thánh và lời dạy của Giáo hội.

4.Nội dung của văn học Công giáo

Nhà văn Công giáo viết gì?

Nội dung của tác phẩm là phần vật chất làm nên tác phẩm. Nó kết tụ vốn sống của nhà văn. Nó là phần hiện thực mà nhà văn quan tâm khám phá, nhận thức và diễn ngôn.

Nội dung chứa đựng trong nó tất cả các yếu tố của tác phẩm như cấu trúc, nhân vật, ngôn ngữ, thi pháp, phong cách và cả năng lực sáng tạo của tác giả. Rất ít nhà văn có khả năng viết những bộ sử thi, bởi nội dung sử thi đồ sộ về thời gian, không gian, sự việc, số lượng nhân vật và cấu trúc phức tạp…so với một tác phẩm chỉ có vài nhân vật trong một không gian hẹp, thời gian ngắn, dung lượng chừng 300 trang in.

Phản ánh hiện thực là một thuộc tính của văn chương, cũng có thể trở thành một nhiệm vụ. Nhờ hiện thực được miêu tả trong tác phẩm và thái độ của nhà văn khi miêu tả hiện thực ấy, người đọc có thể nhận ra khuynh hướng tư tưởng của tác giả.

Nội dung của tác phẩm văn học phong kiến là câu chuyện của tầng lớp trên. Thí dụ, Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh – Nguyễn Du) kể lại sự việc xảy ra cho gia đình Kiều, một gia đình trung lưu. Trong truyện Kiều, gia đình Hoạn Thư là một danh gia vọng tộc. Bọn quan lại đủ mặt, từ quan mặt sắt đen sì, đến trọng thần Hồ Tôn Hiến. Thượng Kinh ký sự (Lê Hữu Trác. 1783), Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngô Gia văn phái. Cuối thế kỷ 18) cũng miêu tả cụ thể xã hội quan lại, vua chúa  phong kiến thời bấy giờ.

Nội dung các tác phẩm văn học Công giáo thời kỳ đầu cũng hướng về hiện thực sống đạo của người Công giáo. Chẳng hạn Các thánh truyện (Majorica), Inê tử đạo vãn, Sấm Truyền Ca (Lữ Y Đoan), Thuật tích việc nước Nam (Lm. Đặng Đức Tuấn), Tuồng Cha Minh (của Marie-Antoine Louis Caspar – cố Lộc.1881) viết về thánh tử đạo Lm Philiphê Phan Văn Minh (1815-1853).

Tuy nhiên, khi tác giả là người Công giáo viết tác phẩm thế tục, thì nội dung không phải là đời sống đức tin của người Công giáo. Xin đọc: Một linh hồn (1941) của Thụy An, Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp (1966) của Thảo Trường; tiểu thuyết Cơ hội của Chúa (1999) của Nguyễn Việt Hà.  Cơ hội của Chúa “tái hiện bức tranh Hà Nội thời kỳ đầu đổi mới với sự biến chuyển mạnh mẽ về kinh tế thị trường, qua đó khám phá những trăn trở, suy thoái và khát vọng của giới trí thức cũng như giới tư sản mới nổi”…

Như vậy, căn cứ vào nội dung, người đọc có thể xác lập được thế nào là một tác phẩm văn học Công giáo. Nội dung tác phẩm khám phá hiện thực gì? Dưới ánh sáng tư tưởng Mỹ học nào? Thái độ miêu tả hiện thực và diễn ngôn của tác giả có phù hợp với lời dạy của giáo hội về tín lý, luân lý, nghi lễ sinh hoạt không? Viết tác phẩm, tác giả hướng đến mục đích gì (mục đích tôn giáo, mục đích chính trị, mục đích lợi nhuận)?

Bạn thử đọc tiểu thuyết Bão biển (1969) của Chu Văn, Những con chim ẩn mình chờ chết (1977) của Colleen McCullough, Mật mã Da Vinci (2003) của Dan Brown..  và xác định xem những tiểu thuyết này có phải là tác phẩm văn học Công giáo không?

  1. Nhân vật văn học Công giáo

Nhân vật là yếu tố trung tâm của tác phẩm. Nhân vật thể hiện chủ đề, tư tưởng, và làm

nên cốt truyện, kiến tạo nội dung tác phẩm. Sự thành bại của một tác phẩm văn học tùy thuộc vào sự thành công trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhân vật còn là sự chọn lựa hóa thân của tác giả, nói tiếng nói (diễn ngôn) của tác giả. Hơn nữa, nhân vật định vị một trào lưu văn học (nhân vật của Tự Lực Văn Đoàn) là diện mạo của một dòng văn học (nhân vật của dòng văn học hiện thực phê phán). Những nhân vật lớn còn đại diện cho một thời kỳ văn học, một thời đại lịch sử (xin đọc bài thơ Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão: “Hoành sóc giang san cáp kỷ thu/ Ta quân tỳ hổ khí thôn ngưu…”.

Nhìn rộng ra văn học thế tục, nhân vật của văn học trung đại phong kiến là tầng lớp trung lưu, quan lại, quân tử, những điển hình cho lý tưởng “Trung, Hiếu”. Nhân vật của văn học lãng mạn 1930-1945 là ông đốc, thầy ký, ông Phán, luật sư, bác sĩ, những mẫu người Tây học, những người có danh phận trong giới tư sản (Xin đọc tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn). Nhân vật chính của văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa là công, nông, binh, mang phẩm chất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nhân vật trong các Thiền thoại là những Thiền sư, những người tu hành.

Vậy văn học Công giáo có những “nhân vật điển hình” hay không?

Trong Tân Ước, Đức Giêsu đi khắp nơi, giao tiếp với đủ hạng người. Ngài cảm hóa họ, đem đến cho họ ơn cứu độ. Cựu Ước và Tân Ước đã để lại rất nhiều nhân vật lẫm liệt, dù có khi nhân vật ấy rất nhỏ bé. Thí dụ: “một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu, thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta” (Lc 19, 19-31).

Vì thế, nhà văn Công giáo có thể viết về đủ loại nhân vật, nhưng soi sáng trang văn bằng Mỹ học Kitô giáo, thể hiện cho được lòng yêu thương của Đức Giêsu với những con người nghèo khó, khốn khổ trong Tám mối phúc (Mt 5, 1-12), trong ngày cánh chung (Mt 25, 31-46).

Những phẩm chất tôn giáo, đức hạnh của giáo dân, Linh mục, tu sĩ đều đã được dạy trong Kinh Thánh. Vì thế, khi xây dựng nhân vật văn học Công giáo, nhà văn sẽ miêu tả hành trình sống đạo và làm chứng cho Tin Mừng của họ trong cuộc sống đời thường. Cuộc đấu tranh để trưởng thành lên trong đức tin của người Công giáo là cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ và hết sức khó khăn. Sự vấp ngã thường khó tránh khỏi. Người Công giáo luôn cầu xin ơn Chúa và cậy trông vào Lòng Chúa Xót Thương.

Trong văn học Công giáo, có nhiều nhân vật Linh mục, tu sĩ. Bởi họ là những người được Chúa chọn. Họ từ bỏ mình, sống chết vì đoàn chiên. Trong đời sống thực tiễn, Linh mục, tu sĩ sống giữa cộng đoàn giáo dân, là người dạy dỗ đức tin và là chỗ dựa tinh thần của cộng đoàn. Họ thường bị thế gian ném đá vì ganh ghét. Chính Đức Giêsu còn bị người Do Thái ném đá (Ga 8,58-59 và Ga 10,31-33) và bị đóng đinh trên thập giá.

Cho nên, nếu tác phẩm văn học Công giáo có viết về Linh mục, tu sĩ, thì điều đó có thể hiểu. Xin tham khảo truyện về các thánh tử đạo Việt Nam, hoặc Tuồng Cha Minh. 1881, của Marie-Antoine Louis Caspar (cố Lộc)[[18]] viết về thánh linh mục Philiphe Phan Văn Minh tử đạo 1853.

Nhiều tác phẩm thế tục viết không đúng về linh mục cũng là điều có thể hiểu (Những con chim ẩn mình chờ chết (tiểu thuyết của Colleen McCullough), Bão biển của Chu Văn)…

  1. Bút pháp của văn học Công giáo

Người viết văn Công giáo nên sử dụng bút pháp nào?

Ở Việt Nam, bạn đọc đã quen với bút pháp lãng mạn, bút pháp Hiện thực phê phán,

bút pháp Hiện thực xã hội chủ nghĩa và từ “đổi mới”(1986) đến nay, nhiều phương pháp sáng tác khác đã du nhập vào văn học Việt Nam như Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, Tiểu thuyết mới, Chủ nghĩa hiện sinh, và chủ nghĩa Hậu hiện đại. Mỗi một bút pháp, một trào lưu đều có những nguyên tắc riêng về Mỹ học, về tư tưởng triết học, về những thủ pháp và những kiểu kiến trúc tác phẩm khác nhau.

Và dĩ nhiên, văn học Công giáo được viết với ánh sáng Mỹ học Kitô giáo với mục đích: … giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”, nói các khác là mục đích loan báo Tin Mừng, thì văn học Công giáo phải có cách viết khác.

Văn học Công giáo không thể dùng bút pháp lãng mạn“để giải thích sứ điệp Tin Mừng và để tìm cách áp dụng sứ điệp ấy cách chính xác vào trong đời sống cộng đoàn Kitô hữu”. Và vì Tin Mừng là tiếng nói của ơn Cứu độ, đem đến niềm hy vọng cho muôn dân, nhà văn Công giáo không thể viết Hiện thực phê phán. Chủ nghĩa Hiện thực xã hội chủ nghĩa miêu tả “hiện thực cách mạng” của quần chúng vô sản trong quá trình đấu tranh các mạng. Nền tảng triết học phương pháp sáng tác này là chủ nghĩa Mác – Lênin. Nếu nhà văn Công giáo viết về giáo dân, họ là những người sống đức tin, thì không thể miêu tả họ như “quần chúng cách mạng” được. Chủ nghĩa Hậu Hiện đại là trào lưu đa nguyên về tư tưởng, dùng Giải cấu trúc để giải trung tâm, lật đổ các “đại tự sự”, “giải thiêng” các tín niệm,…chắc chắn không thể được dùng chuyển tải những chân lý vĩnh cửu của Tin Mừng được.

Trình bày như vậy để thấy việc chọn lựa bút pháp của nhà văn Công giáo cũng chính là chọn lựa thái độ trong việc phản ánh hiện thực, và chọn lựa đứng về phía chân lý trong cuộc đấu tranh tư tưởng.

Hãy quan sát

Kinh Thánh ghi lại chân thực cuộc đời Đức Giêsu, không chỉ cuộc sống xã hội rao giảng Tin Mừng; mà quan trọng hơn là, khẳng định Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Người đến thế gian để cứu độ nhân loại. Ai tin điều ấy thì sẽ được cứu rỗi. Kinh Thánh giáo dục đức tin ấy cho nhân loại. Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ về nước hằng sống bên giếng Giacop (Ga 4, 5-42), Chúa Giêsu nói chuyện với chị em Macta về sự bất tử (Ga 11, 21-44), Chúa Giêsu đối thoại với Philato về “chân lý” (Ga 18,33 – 19,11), Chúa Giêsu nói về sự phản bội của Giuđa (Ga 13, 21-30), Chúa Giêsu nói với Tôma về bản chất của đức tin (Ga 20, 24-29)…là những trình thuật tuyệt vời cả về nội dung, tư tưởng và nghệ thuật.

Đức Giêsu hay dùng dụ ngôn để giảng dạy. Đó là những câu chuyện giàu ý nghĩa tư tưởng và tâm linh, rất đa dạng về “bút pháp”. Xin đọc dụ ngôn Người Samari nhân hậu (Lc 10, 29-37), dụ ngôn Lazarô và người phú hộ (Lc 16, 19-31), dụ ngôn Người cha nhân hậu (Lc 15, 11-32), dụ ngôn Người làm vườn nho (Mt 20, 1-16),.. Những dụ ngôn này đều là truyện hư cấu, nhưng có cốt truyện hiện thực, được kể khi Đức Giêsu đối thoại với hiện thực, để làm thay đổi nhận thức và tâm linh của người nghe.

Các nhà văn Công giáo đương đại cần sử “bút pháp hiện thực cứu rỗi” của Tin Mừng trong sáng tác hôm nay. Xin đọc truyện của Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Nguyễn Đức Thông; đọc tiểu thuyết Vượt qua của Lm Cao Gia An, đọc tiểu thuyết Ôi tội hồng phúc của Nguyễn Phương Thảo (Canada), đọc trường ca Ánh lửa đức tin trong đại dịch Covid của Xuân Cát OP,..

  1. Vấn đề thể loại văn học Công giáo

Trong một vài công trình nghiên cứu văn học, tôi thấy tác giả đưa vào rất nhiều thể loại. Hình như có sự lấn cấn nào đó giữa văn chương và văn học, không xác định rõ các thể loại văn học.  Thí dụ:

Trong Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường,[[19]] Lê Đình Bảng đưa vào các tác giả văn xuôi, tác giả thi ca, các thể loại: Tuồng, Vãn; đưa cả Thần học, Triết học, Văn kiện, Thư chung, Thư luân lưu, Thông cáo, Tự điển, Báo chí…(Chương 4, tr.235-314)

Nhà nghiên cứu văn học Công giáo Nguyễn Vy Khanh trong công trình Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam (Nguyễn Publishing, Toronto. 2023), ngoài các tác giả thơ ca, văn xuôi,  còn đưa vào công trình các nội dung về Học thuật tư tưởng (nghiên cứu Triết học, Lịch sử, Ngôn ngữ , Văn học, Chữ Quốc ngữ), Báo chí, Sinh hoạt văn học, Nhà in sách báo Công giáo, Các ấn bản Kinh Thánh

Có thể phân biệt:

Văn chương là những sáng tạo nghệ thuật bằng ngôn ngữ: gồm Truyện, Thơ, Kịch bản văn học, Tùy bút. Những thể lọai cận văn chương là Ký, Nhật ký, Ký sự, phóng sự

Văn học là khoa học nghiên cứu văn chương. Nghiên cứu văn học cần có sự liên kết của nhiều ngành như Văn bản học, Ngôn ngữ học, Văn học sử, các Lý thuyết văn học và Phê bình văn học, Văn học so sánh, Phân tâm học, Sử học, Xã hội học…

Cho nên, việc đưa vào công trình nghiên cứu văn học Công giáo các nhà nghiên cứu ở những ngành khoa học khác, tuy cần thiết, song cần xác định đóng góp của họ với sự phát triển văn học, bởi họ không phải là các tác giả văn chương (không sáng tạo tác phẩm nghệ thuật ngôn ngữ)

Chẳng hạn, trong Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam , Nguyễn Vy Khanh viết về các nhà nghiên cứu:

Lm. Bửu Dưỡng (1907–1987) – Lm. Cao Văn Luận (1910-1986) – Lm. Nguyễn Phương (1921-1993) – Lm. Lê Văn Lý (1913-1992) – Lm. Thanh Lãng (1924 – 1988) – Lm. Đỗ Quang Chính (1929-2012) – Nguyễn Nam Châu (1929 – 2005) – Trần Thái Đỉnh – Trần Văn Toàn – Lê Tôn Nghiêm – Lê Thành Trị – Nguyễn Văn Trung – Lý Chánh Trung – Lm. Hoàng Sĩ Quý – Phạm Việt Tuyền (1926 – 2009) – Phạm Đình Khiêm – Hoàng Xuân Việt (1930-2014) – Võ Long Tê (1927-2017) – Đức Ông Trần Văn Hiến Minh (1919-2003) – Lm. Vinhsơn Bùi Đức Sinh (tr.182-227)

Và vì thế, nội dung các công trình nghiên cứu Văn học Công giáo tuy rất đồ sộ, song những tác giả, tác phẩm văn học Công giáo (theo chuẩn mực của giáo hội) thì không nhiều. Bởi số người Công giáo viết văn chương thế tục khá đông, lực lượng nghiên cứu đa ngành cũng hùng hậu, đặc biệt các nhà nghiên cứu Công giáo có uy tín về Chữ Quốc ngữ.

***

 PHẦN III

 VĂN CHƯƠNG SONG NGUYỄN  Và những vấn đề lý luận văn học

 I.Hoàn cảnh sáng tác.

Song Nguyễn là bút danh của Đức cha Đaminh Nguyễn Chu Trinh, Giám mục giáo phận Xuân Lộc (2004 – 2016). Đến năm 2025, Song Nguyễn đã in 15 tác phẩm, gồm truyện dài, truyện ngắn (5 tập) và hồi ký (3 tập)[[20]].

Song Nguyễn viết tác phẩm vào những năm 1980, thời gian ngài làm cha sở giáo xứ Chính Tòa Xuân Lộc. Công việc mục vụ chưa nhiều. Lúc ấy, Việt Nam vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh vệ quốc kéo dài 30 năm. Đất nước vừa hòa bình thống nhất, đang đứng trước muôn vàn khó khăn do hậu quả của chiến tranh và những biến động chính trị thế giới. Tình hình xã hội còn nhiều phức tạp. Lúc ấy chưa có Luật Tôn giáo – Tín ngưỡng. Các giáo hội ở Việt Nam chỉ sinh hoạt theo các Nghị định của Chính phủ [[21]]. Mãi đến ngày 18/11/2016, Luật Tôn giáo – tín ngưỡng đầu tiên của Việt Nam mới được Quốc hội khóa XIV thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Trong giai đoạn ấy, Thư chung ngày 01/5/1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam mở ra đường hướng mục vụ chung của giáo hội. Thư chung khẳng định: “… Nhưng dựa vào tình thương của Chúa Cha, dựa vào Lời ban sự sống của Chúa Giêsu Kitô và sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta hãy mạnh dạn nhìn vào hiện tại và tin tưởng ở tương lai”.

Hội đồng Giám mục xác định hai nhiệm vụ:

– Tích cực góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.

– Xây dựng trong Hội Thánh một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc.

Và kêu gọi các linh mục thực hiện:

“Anh em cũng hãy làm cho Chúa Giêsu Kitô hiện diện thật sự giữa đoàn chiên, khi anh em phục vụ các tín hữu cách tận tâm và khiêm tốn (LM 15). Nhất là được nhìn nhận như là người đại diện chính thức của Hội Thánh tại địa phương, anh em hãy trở nên hình ảnh của Chúa Cứu Thế, vị Mục Tử hiền lành và khiêm nhường, để cống hiến ơn cứu độ cho mọi người. Xin anh em hãy cùng với chúng tôi đưa Hội Thánh ở Việt Nam đi vào con đường đã lựa chọn: là sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

Đường hướng mục vụ này có thể là những chỉ dẫn để đọc hiểu tác phẩm của Song Nguyễn.

Tác giả nói về mục đích sáng tác của mình trong Lời ngỏ mở đầu tác phẩm:

Viết lại những mảnh đời, những số phận , những trải nghiệm, tác giả chỉ có ý rút ra cho đời mục vụ của mình những bài học từ cuộc sống. Hay nói khác đi, tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này. Mục đích chỉ đơn giản như vậy…”

Ở chỗ riêng tư, tác giả còn cho biết, các tác phẩm được viết là để hướng đến “Năm Linh mục” của Giáo hội [[22]], hướng Linh mục hôm nay sống theo mẫu gương của Thánh Gioan Maria Vianney. Các tác phẩm này được đặt trong tủ sách “Đời dâng hiến”. Song Nguyễn tập trung viết về hành trình mục vụ của các Linh mục, nữ tu. Có một tâm nguyện riêng, Song Nguyễn thổ lộ rằng, các tác phẩm văn học thế tục viết về Linh mục, nữ tu, hầu hết không đúng với thực tiễn đời sống và phẩm hạnh của những người đã dâng hiến đời mình cho Chúa (Bão Biển của Chu Văn, Cha, Con và… của Nguyễn Khải, Những con chim ẩn mình chờ chết của Colleen McCullough, người Úc ). Vì thế, Song Nguyễn muốn khắc họa lại chân dung thật của các Linh mục giữa đời thường, trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước. Những câu chuyện Song Nguyễn kể là chuyện thật do các linh mục ở nhiều nơi khác nhau chia sẻ với ngài. Tác giả đã xây dựng lại thành tác phẩm văn học.

Viết tác phẩm văn học Công giáo cùng với việc tổ chức Giải Văn hóa Nghệ thuật Đất Mới cho giáo phận Xuân Lộc, Song Nguyễn muốn góp phần làm giàu kho tàng văn học Công giáo và thực hiện mục vụ văn hóa của Giáo hội. Song Nguyễn chia sẻ, Tự Lực Văn Đoàn chỉ có 7 nhà văn, nhưng họ đã có những đóng góp giá trị vào sự phát triển của văn học dân tộc những năm 1930-1945, trong khi văn học Công giáo, đã có một truyền thống 400 năm, nhưng do hoàn cảnh xã hội, đã  bị đứt gãy nhiều chục năm (1975-2010).

Thực ra, viết tác phẩm văn học Công giáo ở những năm 1980, Song Nguyễn phải đối mặt với nhiều vấn đề tư tưởng.

Nặng nề nhất là những định kiến lịch sử (đã nói ở trên) đã tồn tại hàng trăm năm.

Vấn đề thứ hai là, người Công giáo miền Nam hội nhập với chế độ mới như thế nào dù năm 1965, Công đồng Vaticano II đã mở ra thời kỳ mới cho giáo hội là “canh tân” (aggiornamento) và “mở cửa” để Giáo hội thích ứng với thế giới hiện đại…

Vấn đề thứ ba là, hiện thực lịch sử xã hội Việt Nam 1945-1980 là vô cùng phức tạp, người viết văn Công giáo phải đứng ở góc độ nào để viết tác phẩm (khác với văn học miền Nam trước 1975 và văn học cách mạng)?

Vấn đề thứ tư, người Công giáo sẽ thực hiện thế nào những nhiệm vụ mà Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam đề ra năm 1980 trong khi cuộc sống đang muôn vàn khó khăn (tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, nền kinh tế bao cấp còn ràng buộc nhiều mặt đời sống?

Và, thứ năm, vấn đề thi pháp, người sáng tác văn học Công giáo theo những nguyên tắc sáng tạo nào, trong khi chưa có một nền lý luận văn học Công giáo?

II.Văn học và hiện thực

Mối quan hệ giữa văn học và hiện thực bao hàm nhiều lĩnh vực cùa lý luận văn học.

Nhà văn chọn lựa phần hiện thực nào để đưa vào tác phẩm? Nhà văn tìm kiếm kiểu nhân vật nào trong hiện thực? Thế giới quan, nhân sinh quan của nhà văn thể hiện qua góc nhìn và thái độ trần thuật như thế nào? Tác giả chọn lựa bút pháp nào trong miêu tả hiện thực để lên tiếng nói (diễn ngôn)? Điều này có thể thấy rõ trong Văn học lãng mạn 1930-1945, Văn học hiện thực phê phán (1930-1945) và Văn học Hiện thực xã hội chủ nghĩa sau 1945).

Trong tác phẩm của Song Nguyễn, người đọc có thể nhìn thấy những bức tranh đời sống đức tin, những sinh hoạt “nhà đạo” của người Công giáo trong bối cảnh lịch sử từ những năm 1945 đến thời kỳ “đổi mới”. Cuộc sống ấy được miêu tả chân thực trong ý thức về sự quan phòng của Chúa, mà không miêu tả qua nhãn quan chính trị xã hội. Đó là sự khác biệt tư tưởng của tác phẩm Song Nguyễn với văn học Việt Nam đương đại.

Thực ra, người Công giáo nhìn hiện thực bằng sự quan phòng của Thiên Chúa. Đó là một tín niệm nền tảng đức tin (Mt 6, 25-34). Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ. Lịch sử, dù biến động thế nào, cũng là lịch sử Cứu độ của Thiên Chúa. Mỗi phận người đều đã được Chúa trao cho sứ mệnh làm chứng nhân Tin Mừng trong chương trình của Thiên Chúa. Vì thế, người Công giáo bước đi trong hành trình đức tin với niềm tin kiên vững vào ơn Chúa, dù bất cứ hoàn cảnh thế nào (nhìn vào lịch sử giáo hội Việt Nam từ 1533 đến nay thì thấy rõ). “Nhưng Người quả quyết với tôi: ‘Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối.’ Thế nên tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Ki-tô ở mãi trong tôi”(thư 2 Corinto 12, 9).

Khi miêu tả hiện thực như thế, Song Nguyễn vượt qua được những khác biệt chính trị trong xã hội, vượt qua những định kiến lịch sử, xử lý được những tình huống khó khăn đời thường và tìm thấy niềm hạnh phúc trong Chúa, ngay trong những hoàn cảnh mà người ngoải Kitô giáo không thể hiểu được.

Hiện thực ấy là sinh hoạt của một gia đình thôn quê, sống đạo hàng này [[23]].

Hoặc số phận người phụ nữ giáo dân trong trường kỳ lịch sử. “Tập truyện Mẹ yêu của con kể về số phận những người mẹ từ những năm trước 1945 (Người Mẹ Công Nhân, Người Mẹ Nông Dân), những năm chiến tranh, đến những năm xã hội chuyển sang nền kinh tế thị trường hiện nay (Người Mẹ Thương Gia). Có người mẹ trong Nam, có người mẹ ngoài Bắc, có người ở Pháp, ở Mỹ, ở Úc. Tác giả cũng nói đến nỗi thống khổ của người phụ nữ trong ách thống trị thực dân ở hình ảnh người mẹ công nhân ba đời cạo mủ cao su cho đồn điền Tây. Song Nguyễn cũng đã có những trang viết  đẫm máu và nước mắt miêu tả  chân thực nỗi thống khổ của người phụ nữ trong chiến tranh, bom đạn đau thương, tang tóc, nát tan. Đó là nhân vật người chị của Trần Vũ (truyện dài Định Hướng) đã sinh con trong rừng, dưới mưa bom bão đạn và lạc mất gia đình. Hoặc hình ảnh dì Agnès Nguyễn Phương Tâm và dì Năm (truyện dài Đồng Hành) ở vùng sâu Đồng Tháp Mười trong cơn lốc chiến tranh những năm 1960, một thân một mình, cùng với các cháu nhỏ, cận kề cái chết. Trong một trận càn, Dì năm đã chết rất thảm bên bờ ruộng”[[24]]

Đọc truyện dài Vì sao sáng, chúng ta theo chân Linh mục Trung Tín vào vùng căn cứ cách mạng, gặp gỡ các cán bộ (trước 1975). Trên đường đi Đà Lạt nghỉ hè, đến khu vực quận Định Quán, cha Trung Tín bị quân Giải phóng chặn xe, bắt vào rừng cùng với một số khách trên xe. Cha đã trải qua những chặng đường gian khổ, sống những giờ phút chiến tranh trong căn cứ, gặp gỡ dân quân vùng giải phóng, và bị thẩm vấn nhiều lần bởi các cán bộ từ thấp đến cao (đặc biệt là chương 15, 16). Sau cùng ngài được trả về. Tác phẩm vừa phản ánh hiện thực vùng giải phóng, vừa ghi lại cuộc đấu tranh tư tưởng về sự chọn lựa phục vụ một lý tưởng của người linh mục và người cán bộ, vừa miêu tả hành trình đức tin và lòng cậy trông vào ơn Chúa quan phòng của cha Trung Tín. Bằng đức tin và lý tưởng “đời dâng hiến”, ngài vượt qua những kỳ thị, những quy kết, những khác biệt ý thức hệ, và thuyết phục được người cán bộ về niềm tin chân lý mà ngài đang thực hiện.

Truyện dài Đồng cỏ xanh không miêu tả trực diện chiến tranh, mà miêu tả những nạn nhân bị kẹt giữa hai lằn đạn của cuộc giao tranh. Trước những tang thương và mất mát quá sức chịu đựng của con dân, cha Phương Tín phải tìm con đường bảo toàn an ninh tính mạng cho đoàn chiên. Dấn thân vào chốn hiểm nguy, Cha tiếp xúc nơi này, nơi kia, người này, người kia của cả hai phía, để tìm sự giúp đỡ và bảo vệ an toàn tính mạng cho con dân. Ngài cũng chia sẻ tất cả cho mọi người, những đồng bào địa phương và đồng bào mới đến lánh nạn theo đề nghị của anh Ba, người của “cơ sở”(chương 6)[[25]].

Truyện dài Định hướng viết về một xứ đạo ngay trước và sau ngày Miền Nam hoàn toàn Giải phóng năm  1975. Chiến tranh ác liệt tàn phá tất cả. Nhà thờ không còn, cha sở bị bắt đi. Đoàn chiên tan tác vì bom đạn và sợ hãi, sinh hoạt tôn giáo tan rã. Kinh tế cực kỳ khó khăn. Trong hoàn cảnh ấy, một thầy tu dở dang đã sống ơn gọi giữa “đoàn chiên”. Thầy Trần Vũ cũng là một người dân chạy loạn, nhiều lần kề cận cái chết vì bom chụp trên đầu. Thầy đã chứng kiến những hoàn cảnh thê thảm của người thân, nhiều lần rơi lệ trước cái chết cuả người thương yêu mình. Chiến tranh kết thúc, chàng trở thành một “thầy tu trơn” ở nơi không có linh mục. Do yêu cầu của giáo dân, chàng đã nhận lấy trách nhiệm cùng với mọi người lao động kiếm sống, xây dựng lại nhà nguyện, làm thuỷ lợi để người dân xóm ấp có điều kiện nâng cao sản xuất. Chàng cũng góp phần khôi phục các sinh hoạt tôn giáo, tổ chức lễ Noel trang trọng, lễ Phục Sinh lành thánh”[[26]].

Bộ truyện dài Đất mới (3 tập) miêu tả hiện thực miền Nam vừa giải phóng, linh mục Phương Toàn dẫn giáo dân đi xây dựng kinh tế mới, vượt qua bao nhiêu khó khăn cả về phía giáo dân và những sinh hoạt trong chế độ mới. Tác phẩm đặc biệt miêu tả sự chuyển đổi của lòng người để vượt qua các rào cản ý thức hệ, xóa đi những định kiến lịch sử, thay đổi thái độ phân biệt đối xử, và chuyển hóa tâm linh cả những người đã từng có thành kiến tôn giáo. Đất mới xây dựng được một vùng đất yêu thương của lòng người, thực hiện chủ trương của giáo hội là “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, “xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin phù hợp với truyền thống dân tộc”(Thư chung. Đd).

Ngòi bút Song Nguyễn bám rất sát hiện thực, miêu tả cụ thể những biến cố của đời sống xã hội của giáo dân, đặc biệt là đời sống đức tin. Chiến tranh có tàn khốc, gây bao đau khổ, nhưng chiến tranh không được miêu tả với lòng thù hận, chia sẽ, quy kết. Những ngày tháng khó khăn trước “đổi mới” (trong Đất Mới), cũng được ghi nhận qua nhiều góc nhìn (của giáo dân, của linh mục, của cán bộ Nhà nước), nhưng đó không phải là “hiện thực phê phán” mà là cái nhìn hiểu biết thực tại đất nước sau chiến tranh, không phải là sự thất vọng như cái nhìn của những người bỏ nước ra đi (Chị em Mỹ Linh trong Đất Mới). Người Công giáo trong Đất Mới đã xây dựng vùng kinh tế mới tốt đẹp, đồng thời trợ giúp đồng bào nơi khác đến sau, điều ấy khẳng định đức tin và sự chọn lựa lý tưởng của Linh mục Phương Toàn là đúng, đường hướng mục vụ “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc” của giáo hội là con đường sống đạo của người giáo dân. Sống gắn bó với dân tộc. Dưới ánh sáng Phúc âm, người Công giáo làm mọi việc để góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc

Miêu tả hiện thực dưới nhãn quan “Thiên Chúa quan phòng” của Kitô giáo. Song Nguyễn đã đem đến cho văn học Việt Nam những điều mới mẻ khác hẳn với văn chương thế tục đương đại.

Có ý kiến cho rằng, truyện dài của Song Nguyễn kế thừa và mở rộng mô hình truyện giáo huấn của văn học Công giáo đầu thế kỷ XX [[27]]: “Qua việc đối chiếu truyện dài của Song Nguyễn với mô hình tự sự giáo huấn được hình thành trong truyện Công giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, bài viết cho thấy sự kế thừa giữa hai giai đoạn chủ yếu biểu hiện ở cấp độ thi pháp”.

Thực ra, hiện thực lịch sử xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến “đổi mới” (bối cảnh truyện Song Nguyễn) làm cho sáng tác văn chương của Song Nguyễn hoàn toàn khác biệt với truyện “giáo huấn” của văn học Công giáo đầu thế kỷ XX.

Song Nguyễn không viết tác phẩm để “giáo huấn” đạo đức công dân như kiểu tác phẩm văn học trung đại phong kiến. Tác giả nói rõ: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này”. Mục đích chủ quan của tác giả là vậy, nhưng tác phẩm có tiếng nói riêng. Song Nguyễn miêu tả hiện thực để hóa giải nhiều định kiến lịch sử xã hội, và trên nền hiện thực ấy, Song Nguyễn trình bày những tư tưởng Kitô giáo (chẳng hạn tư tưởng vể Chúa quan phòng) để giải quyết những xung đột của hiện thực (, tư tưởng về chiến tranh, về nững kỳ thị và đường hướng mục vụ người Công giáo “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc”)

Nói như vậy để thấy rằng, dưới ánh sáng tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, và bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” ngòi bút của Song Nguyễn đã chạm được đến những vấn đề lớn của thời đại với góc nhìn và cách lý giải riêng, khác hẳn với văn chương có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX và văn chương thế tục do nhà văn người Công giáo viết.

III.Về thi pháp

Luận văn “Cảm hứng tôn giáo trong sáng tác của Song Nguyễn” của Ths. Đặng Thị Lĩnh (Trường ĐHSP TP. HCM 2025) và bài nghiên cứu “Truyện dài của Song Nguyễn trong tương quan với mô hình tự sự giáo huấn Công giáo nửa đầu thế kỷ xx”của NCS. Đinh Ngọc Oanh đã phân tích sâu sắc và có nhiều khám phá về thi pháp của truyện dài Song Nguyễn.

Tôi xin không nhắc lại.

Trong bài viết này, tôi thử tìm hiểu xem sự chọn lựa cách viết của Song Nguyễn tạo ra khác biệt gì với văn chương đương đại và văn học Công giáo truyền thống.

Song Nguyễn sử dụng cách viết truyền thống mà không có những cách tân thi pháp như tiểu thuyết Việt đương đại. Người đọc sẽ không tìm thấy trong truyện dài của Song Nguyễn dấu vết những thủ pháp nghệ thuật của những trào lưu phương Tây như tiểu thuyết Hiện sinh, tiểu thuyết Hiện thực huyền ảo, tiểu thuyết Hậu hiện đại … Trái lại, đọc truyện của Song Nguyễn, ta có cảm giác rất quen thuộc.

Bút pháp tả thực

Bút pháp chính của Song Nguyễn là bút pháp tả thực: nhà văn hướng về hiện thực cuộc sống để khám phá vấn đề, tìm nhân vật, phát hiện câu chuyện, và thể hiện tư tưởng.

Bút pháp tả thực của Song Nguyễn có nền tảng từ Kinh Thánh. Tôi gọi đó là “Hiện thực cứu rỗi”. Bởi vì Kinh Thánh kể chuyện cuộc đời Đức Giêsu (đời thực) để đem đến ơn cứu rỗi cho những ai có lòng tin (“Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con”. Mc 5, 34).

Điều này hoàn toàn khác với Chủ nghĩa hiện thực (“miêu tả nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình”), mổ xẻ hiện thực để đặt vấn đề cải tạo xã hội.

Song Nguyễn nói rõ phẩm chất hiện thực trang văn của mình: “Tác phẩm là những bài suy niệm sống qua các nhân vật. Và nếu có thể, chia sẻ với bạn bè tất cả những kinh nghiệm quý báu này”. Tức là, tác giả kể những câu chuyện sống đạo để người đọc giáo dân, Linh mục cùng “suy niệm”.

Đối với người Công giáo, sau mỗi bài đọc Kinh Thánh, đều có “suy niệm”, tức là rút ra bài học đức tin, bài học sống đạo. Trong cuộc sống tại thế, đức tin của người Công giáo là tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Thiên Chúa quan phòng mọi sự. Niềm tin ấy giúp người Công giáo nhìn hiện thực khác với người không có đức tin (như đã nói ở trên).

Chẳng hạn, trong lịch sử, các vua chúa nhà Nguyễn đã cấm đạo nghiêm ngặt, sau đó là phong trào Văn Thân “bình Tây sát tả”, gây ra bao nhiêu đau khổ cho giáo dân. Nhưng người Công giáo không oán thù, không trả thù, không tuyệt vọng, mà nhìn những đau khổ ấy, trong ý định của Thiên Chúa, là hạt giống làm nên những mùa gặt đức tin sum suê (118 vị tử đạo đã được phong thánh, đó là niềm tự hào của giáo hội Việt Nam).

Cho nên những “suy niệm” trong truyện của Song Nguyễn chính là “suy niệm” về ý Thiên Chúa quan phòng trong hành trình đức tin giữa đời thường. Tư tưởng đó đem đến sự cứu rỗi cho nhân vật và cho bạn đọc.

Một thí dụ nhỏ: cuộc sống ở vùng kinh tế mới (truyện dài Đất Mới) khó khăn mọi bề, nhưng Song Nguyễn đã miêu tả cái chết khổ của bà Tương Ấn với một nét đẹp kỳ lạ: “khuôn mặt gầy gò xanh mét dần dần trở nên đầy đặn hồng hào, với một vẻ bình an lạ lùng” (tập 2, tr.45). Miêu tả như thế, giúp người đọc hiểu rằng, bà được chết lành và được Chúa cứu rỗi.

Với những vấn đề tư tưởng lớn hơn, tác phẩm cũng đem đến những giải pháp tích cực. Đó là những định kiến lịch sử dẫn đến những phản kháng của Trưởng Tuất với chế độ mới, là thái độ phân biệt đối xử của cán bộ Nhà nước (cán bô Y tế) với Linh Mục Phương Toàn khi ngài bịnh phải nằm viện. Vấn đề bỏ nước ra đi để tìm hạnh phúc riêng (Mỹ Linh cố lôi kéo cha Phương Tòan). Vấn đề làm chuyển hóa lòng người để xây dựng một miền “đất mới” (Minh Nguyệt), miền đất của những con người hiểu biết nhau, thương yêu nhau, cùng chung ý nguyện xây dựng quê hương, đem lại hạnh phúc cho dân.

Bút pháp “Hiện thực cứu rỗi” của Song Nguyễn là một đóng góp mới mẻ cho văn học Việt đương đại, cũng là yếu tố thi pháp phân biệt tác phẩm của Song Nguyễn với truyện dài thế tục viết về linh mục, tu sĩ, giáo dân Công giáo.

Nhân vật của văn chương Song Nguyễn

Như đã trình bày ở phần trên, nhân vật là yếu tố trung tâm của văn học. Nhân vật thực hiện chủ đề, tư tưởng, diễn ngôn của tác phẩm. Nhân vật vừa là yếu tố hình thức vừa là yếu tố nội dung. Sự chọn lựa kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của tác giả bộc lộ thái độ của nhà văn đối với hiện thực.

Thí dụ:

Nhân vật chính của tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn (Đoạn Tuyệt, Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, giai đoạn 1932-1945…) là những trí thức tiểu tư sản. Những nhân vật ấy phản ánh sự thua cuộc của giới trí thức lúc bấy giờ, khi cả Phan Chu Trinh (mất năm 2026), Phan Bội Châu (bị Pháp kết án chung thân năm 1925) và Nguyễn Thái Học (khởi nghĩa năm 1930) đều thất bại.

Nhân vật trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng là những khuôn mặt đại diện cho giới tư sản thành thị (Ông Typn, vợ chồng Văn Minh, Bác sĩ Trực Ngôn, Phán Mọc Sừng, Mụ Phó Đoan, Xuân Tóc Đỏ…). Vũ Trọng Phụng tố cáo bộ mặt lưu manh đồi trụy của xã hội tư sản đầu thế kỷ XX.

Nhân vật trong tiểu thuyết Hòn Đất của Anh Đức có 2 kiểu loại: quần chúng cách mạng đấu tranh kiên cường, hy sinh dũng cảm (Ba Thép, Chị Sứ, Ngạn, Quyên, Má Sáu), và bọn ác ôn bị đánh bại (thằng Sâm, lính Sài gòn thực hiện các trận càn…)

Nhân vật trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp là ông Tướng về hưu 70 tuổi. Các con là (nhân vật Tôi) Kỹ sư ở Viện Vật lý, vợ là Thủy, Bác sĩ. Gia đình “có học thức, sống theo lối mới”. Họ có 2 con gái (12 và 14 tuổi) và người giúp việc là ông Cơ và cô con gái. Ông Cơ bị cháy nhà, mất nghiệp. Truyện miêu tả cuộc đấu tranh “cũ – mới” diễn ra giữa ông Tướng về hưu với các con. Ông tướng dù về hưu nhưng vẫn suy nghĩ và sống theo truyền thống. Vợ chồng Thủy, sống theo “lối mới”. Không chịu đựng được lối sống thực dụng “vô đạo đức” của con, ông Tướng trở lại đơn vị và hy sinh khi làm nhiệm vụ. Diễn ngôn của Nguyễn Huy Thiệp rất rõ ràng. Thời bây giờ là thời của “lối sống mới” thực dụng. Thế hệ cha ông chiến đấu và hy sinh đã là quá khứ.

Tôi đơn cử 4 thí dụ để làm rõ vai trò của nhân vật và sự chọn lựa nhân vật của nhà văn, qua đó thể hiện diễn ngôn.

Nhân vật trong truyện của Song Nguyễn là ai?

Trong các tập Mẹ yêu của conNgười cha hiền là: Người mẹ lao công, Người mẹ bán vé số, Người mẹ bán xôi, Người mẹ bán bún, Người mẹ công nhân, Người mẹ nông dân, Người mẹ bại liệt, Người mẹ thương gia, Người mẹ giáo viên, Người mẹ mù, Người mẹ nuôi, Người mẹ làng cùi, Người mẹ dâng con. Một người cha  bán ve chai, bị trái nổ làm câm điếc. Vợ bỏ đi. Một người cha tài xế, một người cha đại gia không lo dạy dỗ con phải nhận hậu quả. Một ngưởi cha khuyết tật, bị tại nạn xe, vợ chết, thân mình thành tàn phế, nhưng ông vẫn cậy trông vào ơn Chúa. Người cha trong truyện Cái Tráp Gia Bảo để lại cho con gia sản Lời Chúa lưu truyền nhiều đời qua những cuốn sách chữ Hán, chữ Nôm. Người cha công nhân (truyện Tình Chúa Quan Phòng )

Nhân vật trung tâm trong truyện dài của Song Nguyễn là các linh mục, nữ tu và giáo dân. Một đời dâng hiến kể lại cuộc đời cuả nữ tu Antony Nhẫn, người duy nhất ở lại trại cùi Quy Hoà chăm sóc hàng trăm bịnh nhân trong những hoàn cảnh ngặt nghèo ngay sau 1975. Ở Đồng hành, Song Nguyễn đã viết những trang suy nghiệm sâu sắc về cuộc sống, về đời tu, về ý nghiã cuộc sống về giá trị làm người qua nhân vật nữ tu Agnès Nguyễn Phương Tâm sống trong mù lòa. Truyện dài Định hướng là đường trở về của thầy Trần Vũ. Ngay sau 1975, là một người chạy loạn, thầy về sống với giáo dân, cùng làm thủy lợi, cùng xây dựng giáo xứ. Đất mới là hành trình của linh mục Phương Toàn, một giáo sư Đại Chủng viện, từ bỏ việc đi nước ngoài để cùng giáo dân đi kinh tế mới. Chỉnh hướng là những bài học của linh mục trẻ Phương Trung rút ra từ quá trình mục vụ. Dù rất nhiệt tình và hăng say trong sứ vụ, nhưng vì chủ quan, ngài không tránh được những vấp váp. Trước và 30/4/1975, Linh mục Phương Trung đã chọn lựa sự ở lại với giáo dân, chấp nhận những nghi oan về thân phận mình để sống chết với đoàn chiên, và học cách tiếp cận với chính quyền mới.  Linh mục Trung Tín trong Vì Sao Sáng là một thầy giáo. Ngài từng đối mặt với khách ngoại quốc khi họ chọc ghẹo thô tục các học sinh nữ trong một dịp đi chơi xa. Ngài cũng bị quân Giải phóng bắt vào rừng, bị cán bộ cách mạng thẩm vấn, sau đó được trả về. Linh mục Phương Tín trong Đồng cỏ xanh, giống như Mose ngày xưa, đã dẫn giáo dân tìm đến nơi an toàn giữa lằn đạn chiến tranh của cả hai phía…

Sự chọn lựa miêu tả một hệ thống nhân vật như thế của Song Nguyễn có ý nghĩa gì?

Nói thật gọn, nhân vật của Song Nguyễn là linh mục, nữ tu và giáo dân Công giáo gồm đủ mọi thành phần, nhưng đa số là người lao động nghèo khổ, và nhiều người bất hạnh.

Nhưng họ không được miêu tả qua mắt nhìn giai cấp (của văn học Hiện thực phê phán, thí dụ, truyện Chí Phèo, hay Tắt Đèn), hay học thuyết “đấu tranh giai cấp” (văn học cách mạng, thí dụ: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi hay Hòn đất của Anh Đức).

Họ là giáo dân nên có phẩm chất của người theo Chúa. Họ sống đức tin với lòng cậy trông vào sự quan phòng của Chúa và yêu mến tha nhân.  Họ nhìn đau khổ là thánh giá để nên ơn ích cho linh hồn. Những hoàn cảnh họ gặp phải, dù ngặt nghèo, cũng nằm trong ý định cứu rỗi của Thiên Chúa. Họ biết rõ sự yếu đuối, hạn chế của chính mình mà xin ơn kiên trung bền đỗ trong đức tin.

Song Nguyễn không miêu tả nhân vật anh hùng bằng bút pháp lý tưởng hóa (trong văn học cách mạng), cũng không né tránh miêu tả nhân vật xấu, nhưng văn Song Nguyễn không có nhân vật gian ác (như kiểu Bá Kiến trong Chí Phèo hay thằng Xăm trong Hòn Đất của Anh Đức). Ngay cả miêu tả “nhân vật phía bên kia” (quân Giải phóng, cán bộ cách mạng trong Vì Sao Sáng), ông vẫn dành cho họ sự tôn trọng khách quan (khác với những tuyên truyền chính trị)

Hệ thống nhân vật này đủ giúp Song Nguyễn xóa đi những định kiến lịch sử (đã nói ở trên), giải tỏa những ngộ nhận chính trị (đối thoại giữa Lm Trung Tín và cán bộ các mạng trong Vì sao sáng) và những thái độ phân biệt đối xử đối với người Công giáo (trong Đất Mới) mà do hoàn cảnh xã hội gây ra.

Hệ thống nhân vật này cũng thể hiện được tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, đồng thời khẳng định vẻ đẹp nhân văn Thiên Chúa giáo, và làm sáng tỏ đường hướng mục vụ của giáo hội trong Thư chung 1980.

Đây là đóng góp của Song Nguyễn có ý nghĩa cả về tư tưởng và thi pháp về kiểu nhân vật quần chúng, bên cạnh kiểu nhân vật quần chúng trong văn học Hiện thực phê phánvăn học cách mạng.

Ở góc nhìn tâm linh, hệ thống nhân vật này là những “bài học suy niệm” mà tác giả muốn gửi đến bạn đọc Công giáo làm kinh nghiệm quý báu cho hành trình đức tin của mình.

***

PHẦN IV

TÁC PHẨM CỦA SONG NGUYỄN VÀ VĂN XUÔI CÔNG GIÁO “TRUYỀN THỐNG”

***

I. SƠ LƯỢC VĂN XUÔI CÔNG GIÁO “TRUYỀN THỐNG”

Xin lướt qua một số tác phẩm văn xuôi để có ý niệm về “truyền thống” văn xuôi

Công giáo. Thực ra, chữ “truyền thống” chỉ được dùng tạm thời trong bài viết này, bởi đa số tác phẩm “văn xuôi Công giáo” đầu thế kỷ XX chỉ có yếu tố Công giáo, không phải là “tác phẩm văn học Công giáo”.

1.Girolamo Majorica (1591-1656)-Thánh Tume truyện

Về văn xuôi, Majorica có bộ Các Thánh Truyện (1646) chữ Nôm, được coi là tiêu biểu cho văn xuôi Công giáo thế kỷ 17. Truyện kể lại cuộc đời, đạo hạnh của các thánh Công giáo.

Thánh Tume truyện kể lại cuộc đời Thánh Tôma Tông đồ. Tác giả cho biết nguồn tư liệu: “Phần thì ở trong sách Đức Chúa Giêsu, phần thì ở miệng kẻ còn ở nước Thiên Trúc, ”(tức là, truyện được ghép từ hai phần: một phần truyện viết lại trình thuật trong Tân Ước, một phần là những giai thoại truyền miệng ở Ấn Độ)

Đây là đoạn kể lại theo Tân Ước (Ga 20, 24-29), có xen lời bình (xin lưu ý: đây là tiếng

Việt thế kỷ 17)

“Đến khi Đức Chúa Giêsu đã chịu chết mà sống lại tốt lành, hiện đến cùng các đầy tớ

họp lại làm một. Phải khi ông Thánh Tume chẳng có ở nhà, khi người về các bạn bảo tin lành ấy cho được mừng. Song le, người hồ nghi mà rằng: tôi chẳng thấy dấu tay Người, cùng lấy ngón tay này xỏ vào đấy, cùng bàn tay tra vào nương long thì chẳng tin. Ấy là đá đến mình Người thì mới tin Thầy tôi sống lại.

Khi ấy người cũng lỗi, vì chẳng tin Đức Chúa Giêsu đã phán ngày trước. Song le Thầy đã chọn người đi sứ các nước thiên hạ, được lên thiên đàng, thì chẳng để cho đầy tớ hồ nghi cho lâu.

Khỏi tám ngày, Đức Chúa Giêsu hiện đến mà gọi ông Thánh Tume rằng: hãy lấy ngón tay mày mà xỏ vào dấu tay Tao, cùng bàn tay tra vào nương long mà tin thật, chớ hồ nghi nữa. Bấy giờ, người vâng lời Đức Chúa Giêsu liền kêu rằng: này là Chúa tôi cùng Dêu tôi thật. Lời ấy xưng ra tỏ tường hai tính Đức Chúa Giêsu, một tính là Đức Chúa Trời, hai là tính người thật…”

Đây là truyền thuyết về cái chết của Tôma tại Ấn Độ: “

“ …Các sãi thấy Đạo Đức Chúa Trời một ngày một thịnh, mà Thích già truyền một ngày một kém, thì toan giết người, kẻo mình mất ăn. Vậy khi người quỳ xuống nguyện ngoài thành này, trước Câu rút đá người tạc, thì một sãi lấy giáo đâm người chết…”, …

Từ Đức Chúa Giêsu ra đời đến ông thánh này chết khỏi 75 năm”. [[28]]

Majorica kể chuyện “người thật việc thật” nhưng không ghi rõ nguồn các truyền thuyết về thánh Tôma tại Ấn Độ, cũng không lý giải thánh Tôma có liên can gì với thời Gia Tĩnh (1522-1566) ở Trung Quốc và thời kỳ Nam Bắc triều (Lê – Mạc), Nguyễn sơ ở Việt Nam.

2.Nguyễn Trọng Quản – Truyện thầy Lazarô Phiền (1887).

Truyện có cấu trúc kép: kể chuyện trong chuyện, có 10 chương. Các chương được đánh số, không có nhan đề chương.

Trên chuyến tàu đi Bà Rịa ngày 12 janvier 1884, Tôi (tác giả) gặp thầy Lazaro Phiền cùng đi. Hai người ở cùng phòng. Thầy Phiền kể lại chuyện đời mình cho tôi (tác giả) nghe. Thầy kể (nhân vật xưng Tôi):

Mười năm nay tôi đã giấu mọi người, tôi làm cho ai nấy tưởng tôi là người nhơn đức, song tôi là đứa tội lỗi là ngần nào”…Tôi sinh năm 1847, thời Tự Đức. Từ lúc 3 tuổi, tôi đã chịu cực khổ và chứng kiến cảnh bắt đạo. Cha tôi 46 tuổi. Nhiều lần ông đem tôi lên rừng mà trốn. Năm 1860, tôi được 13 tuổi, Tây lấy thành Gia Định, quan An Nam cho đốt nhà dân. Lúc tôi 15 tuổi, quan sai bắt dân có đạo cầm tù hết và khắc chữ “Biên Hòa tả đạo” trên hai mép tai. Năm 1862 thì nghe đồn quân Pháp đánh lấy Bà Rịa… quan sai đốt ngục. 300 người khi ấy còn sót lại 10 người, Ông già tôi chết trong ngục.

Ra tù tôi không biết đi đâu. Quan ba Tây nhận tôi làm con nuôi. Khi quan về nước thì  giao tôi lại cho Giám mục Lefèbvre. Tôi vào học trường La tinh, kết nghĩa với Verô Liểu, sau đó đi Sài Gòn làm việc tại dinh quan Thượng thơ. Đặng 6 tháng, tôi lấy vợ, con gái dì thầy Liễu. Tôi đi làm, hay vào đồn Tây giao du. Có vợ quan Tây, người An Nam, thường quyến rũ, nhưng tôi cố xa lánh.

Nhận được thư báo vợ tôi ngoại tình với thầy Verô Liểu, tôi quyết báo thù. Nhân dịp quan sai tôi đi bắt cướp trên sông, lính của tôi đã bắn chết Liễu.  Tôi ân hận, nhưng không quên việc Liễu ngoại tình với vợ tôi. Tôi đã dùng cỏ tím độc bỏ vào ấm thuốc ho của vợ. 11 tháng sau, trước khi chết, vợ nói: Tôi biết vì làm sao mà tôi phải chết, song tôi cũng xin Chúa thứ tha cho thầy.

Sau khi chôn cất vợ, tôi lên Sài Gòn tu ở nhà dòng Tân Định. Được 6 năm, chịu chức thầy. Đến năm 1882, thì tôi mắc bịnh nầy.

Tàu cập bến, chúng tôi chia tay. Tôi (tác giả) khuyên thầy Phiền xưng tội. Thầy nói sẽ xưng tội với cha sở Bà Rịa. Thầy còn dặn, khi nào tôi (tác giả) ghé Bà Rịa thì đọc một kinh nơi mồ thầy.

Tôi (Tác giả) nhận được thư thầy Lazaro Phiền. Thầy nhờ thuật lại truyện của mình cho mọi người biết. Và một lá thư của người đàn bà lăng loàn gửi, không ký tên. Ả thú nhận mình đã hại thầy Lazaro Phiền làm chết hai người vô tội. Ả xin thầy Phiền tha tội.

Năm 1885, tôi (tác giả) trở lại Bà Rịa, gặp cha sở, ngài dẫn đi thăm mộ thầy Phiền. Tôi quỳ xuống đọc cho thầy một kinh cầu hồn.(hết truyện)

Nhận xét: truyện kể về một đời người (dung lượng của một tiểu thuyết), có những chi tiết năm tháng, tên người, sự việc, địa danh thật, như kiểu truyện ký. Nội dung phản ánh hiện thực bắt đạo thời Tự Đức ở Biên Hòa, đồng thời phơi bày nỗi thống khổ của một tâm hồn tội lỗi cho mọi người biết. Cuối truyện, kẻ thủ ác bí mật được phanh phui.

Truyện giống như kiểu truyện vụ án. Tuy là bi kịch, song đây là văn chương thị trường.  Khai thác nhiều tình huống éo le, gay cấn; khai thác sự hiếu kỳ của độc giả về chuyện tội lỗi của một thầy tu mà trong thực tế chỉ là hư cấu. Trong đời thường, thầy tu luôn là người được coi là thánh thiện.

Lương tâm Công giáo không cho phép thầy tu làm ác (Thầy Phiền cố ý giết 2 người thân). Luật giáo hội không cho phép phơi bày tội lỗi của người khác, chỉ mình cha sở được biết để thực hiện Bí tích Hòa giải cho hối nhân.

Đặc sắc của truyện là sự chân thành trong lời kể, nghệ thuật phân tích tâm lý, và những “tin tức” lịch sử cấm đạo ở Biên Hòa, Bà Rịa thời vua Tự Đức. Người đọc có thể tin là thật.

3.Charles Ngọc MinhTruyện ông Gioăng Ngô Kim Thạch (1917)

            “Kể chuyện cấm đạo bên Trung Hoa. Gia đình ông Gioang Ngô Kim Thạch phải trốn lên núi, rồi lạc nhau. Nhưng chính những người bị vua quan bách hại vì nghi ngờ lòng trung lại là những người trung quân ái quốc. Khi biết chuyện, vua đã phong tặng người có đạo và ban sắc chỉ khen, “cho phép mọi người giữ đạo và phép đạo mặc ý mình“. Con ông Ngô Kim Thạch là Kim Luông giúp vua đánh diệt giặc, được vua quan phong lãnh ấn Nhị Lộ Nguyên Soái. Vua đón Kim Luông hồi triều, lại đứng ra làm chủ hôn: “Vua đứng làm mai và cho phép làm theo lễ phép hôn nhân có đạo.

“Nội dung là chuyện luân lý, kết hợp giữa tam cương ngũ thường của đạo Nho với mười điều răn (thập giới) của Thiên Chúa Giáo, giữa nhân ái của Khổng giáo với bác ái của đạo Chúa, với đức tin vào Thiên Chúa là cha trên trời chí công và chí nhân”.[[29]]

  1. Cung Giũ Nguyên (1909-2008)Một người vô dụng”(1930)

Tiểu thuyết tâm lý Một Người Vô Dụng như một bản tự thú của một người tự xét có lỗi với người thân và xã hội,

“ …Làm trai như tôi thật là quá đê mạt. Nếu đem trước tòa án lương  tâm của tôi mà xử, lấy luân lý hiện thời làm gốc, thì tội tôi biết mấy mà kể cho vừa. (…).[29 đd]

Truyện có khuynh hướng tư tưởng nhưng không có yếu tố tôn giáo

4.Lê Văn Đức- “Tìm Của Báu (1925)

Tìm Của Báu (1925) là truyện về xã hội và đời sống giáo dân ở miền Nam thời Nam tiến, tranh tối tranh sáng .

Vì cấm đạo, Anh em ông Ngự phải từ Bắc vào Nam. Họ kiếm sống bằng nghề nông. Tình cờ, họ đào được cái chum vàng và trang sức của người Chăm hoặc Miên từng đóng kinh đô ở nơi đó.

Rủi là khi ông bán cho “bọn Hoa-kiều” thì chúng cho người theo dõi. Bọn cướp của Đầu Khấu lợi dụng đang có loạn Thiên địa hội để bày cướp bóc nhà người có Đạo.

Trung là đầy tớ thân tín của ông Ngự, bị bọn ác giết nhưng thoát chết “Chúa để tôi sống mà sửa phạt đứa sát nhơn”. Nó dụng mưu lấy lại được của quí.

Kết truyện: khi ơn đền oán trả, của quí tìm lại thì không ai chịu nhận. Thay vì bán cho Hoa-kiều thì họ đồng lòng giao cho cha sở gởi qua Pháp bán “cúng lập nhà trường nuôi kẻ ở học hầu sau chịu chức Thầy cả, cùng giúp mở đạo trong nước Annam. Chớ chi đạo thánh Chúa càng ngày càng thạnh”[29 đd].

Nhận xét: kiểu chuyện vụ án, văn chương thị trường, có yếu tố Công giáo.

  1. Phêrô Nghĩa-Cha giết con”.1932

Bùi Xuân là một đứa trẻ dễ thương, thông minh và hết mực ngoan đạo, con của ông bà Phó Hội – gia đình có đạo. Cậu được cha mẹ gởi vào học trong nhà cha sở.  Đến tuổi thiếu niên, cậu Xuân có ý muốn đi tu, nhưng cha mẹ phản đối vì cậu là con nối dõi tông đường. Lúc đầu họ khuyên răn, cấm cậu Xuân đi tu. Nhưng, cậu cãi lời, bỏ chạy khỏi nhà,…

Ông bà Phó Hội cho Bùi Xuân nghỉ học ở nhà để học nghề thuốc của gia đình, rồi tạo điều kiện cho Bùi Xuân ăn chơi, tiếp xúc với những cảnh xa hoa, trụy lạc để Xuân quên việc đi tu. Ông bà dọn nhà lên thành phố Huế để con tiếp tục “vui chơi”.

Bùi Xuân lúc đầu còn lạ lẫm, nhưng chẳng bao lâu, cậu “hội nhập” rất nhanh, trở thành một tay ăn chơi chính hiệu. Cậu dan díu với Ba Huệ – một cô gái lẳng lơ đã có chồng. Bùi Xuân ăn cắp một khoản tiền lớn của gia đình rồi cao chạy xa bay với Ba Huệ sau khi ả ngầm bỏ thuốc cho chồng chết. Chẳng được bao lâu, Ba Huệ lại dan díu với một người trong giới giang hồ và cuối cùng chính tay cô đã đâm chết Bùi Xuân. Nhìn xác con nằm giữa vũng máu, ông Phó Hội đã thét lên: “Trời ơi, cha giết con, con ôi!” [[30]]

Nhận xét: kiểu truyện văn chương thị trường, khai thác một mâu thuẫn không có thực. Đó là: trong hành trình sống đạo, gia đình Công giáo nào cũng mong con đi tu, vì đó là ân phúc rất trọng. Không ai lại đẩy con vào chốn ăn chơi trụy để rồi bị đâm chết?

7.Phêrô Nghĩa-Đôi bước lưu ly”.1928

Đôi bước lưu ly là câu chuyện 14 năm lưu lạc gian nan của đôi vợ chồng trẻ thời vua Tự Đức bách đạo .

Ngô Văn Giáo “chịu phép Rửa tội” sau đó kết hôn Mai Thị Khiêm chưa được bao lâu thì bị bắt đạo. Giáo từ Thanh Hóa vào Quảng Nam tìm chú Phác để lánh nạn cho gia đình. Chú sắp cho Giáo ở nhà một người quen và hứa sẽ đưa mẹ và vợ cậu Giáo xuống đó để ẩn náu.

Chuyến tàu chở mẹ và vợ Giáo gặp kẻ xấu. Mẹ Giáo bị giết, còn Khiêm thì lưu lạc.

Cô từng rơi vào tay tên cướp. Có khi ốm đau, Khiêm phải xin ăn qua ngày. Từng suýt mất mạng dưới tay lũ cướp ở Đèo Ngang, bị đắm tàu… và lọt “mắt xanh” của một người quyền thế là em một vị ân nhân khác đã cứu mạng cô.

Nghe tin chẳng lành về vợ và mẹ, Giáo từ Quảng Nam trở lại Quảng Trị rồi trở ra Thanh Hóa, từng bị lạc trong rừng và rơi vào động cướp. Nhiều lần cậu gặp họa trên đường đi. Là người tử tế, Giáo cũng được nhiều người yêu quí, muốn gắn bó.

Kết truyện, khi Ngô Văn Giáo trở thành thầy Thông lại – một chức quan đáng kể dưới thời các vua triều Nguyễn. Trong một lần đi khám án, Giáo gặp lại vợ bị người ta nhấn nước. Từ đây họ sống hạnh phúc, đạo hạnh và thường xuyên thuật lại với nhau về quãng đời lưu li của mỗi người [30 đd].

Nhận xét: kiểu truyện có cấu trúc 3 đoạn: gặp gỡ – phân ly- đoàn tụ. Tác giả hư cấu nhiều tình huống éo le, gay cấn, gợi sự thương cảm. Kiều văn chương thị trường có yếu tố tôn giáo.

8.Phêrô Nghĩa-“Ôi là tự do!”. 1931[[31]]

Trong bệnh viện, nhân vật Tôi (bệnh nhân) kể cho Tôi (tác giả) về cái nỗi đoạn trường  tự mình gây ra mà làm gương cho kẻ hậu lai. :

Tôi sinh trưởng trong gia đình danh giá ở Hà Tĩnh, cha là Cai Tổng. Cha mẹ mất sớm, chị tôi ở vậy nuôi em. Tôi được ăn học nhưng bỏ học đi chơi. Lúc tôi 20, Tôi lấy vợ và xử tệ với chị.

Một lần tôi bỏ nhà đi chơi ba ngày, gây với chị và đánh chị. Chị xin làng chia gia tài cho tôi. Từ đây tôi ở riêng, và không cho chị ở chung nhà nữa.

Khi ra riêng, tôi tiếp tục “những dập dìu đêm ba ngày bốn, bè bạn cùng những tay phong phú ăn chơi,”. Con vợ tôi trở về đường cũ, “trong dâu trên bộc, bạn bè cùng mấy ả bình khang, vầy đoàn cùng bọn buôn son bán phấn”. …chỉ trong vòng có ba năm chưa đầy mà tôi đã phải bán cầm hầu hết”.

Sau khi vợ bỏ đi, tôi theo bọn cướp và lần lần tôi đã thành một tay trộm bợm.

          Trong một vụ trộm, bọn tôi bị bắt, tôi bị 3 tháng tù. Mãn hạn tù, tôi đi biệt xứ để kiếm việc làm ăn. Có lúc phải xin ăn, có lúc trở thành nô lệ. Có lúc theo thầy Xu-vai-giăng đi Bồng Sơn làm việc cho một đồn điền Tây nơi rừng sâu nước độc. Chưa được 3 tháng tôi đã ngã bịnh. Sốt rét cách nhật, ho, thổ huyết. Họ thải tôi ra ngoài sở.

Tôi biết đi đâu? Một ngày kia, xin ăn ở một xóm đạo, tôi được một ông cố (Linh mục) giúp đỡ đưa đến nhà thương Huế. Tôi ở đây đã hơn 4 tháng trời, chỉ đợi chết vì nhà thương đã chê. Tôi nằm suy nghĩ cái kiếp khốn nạn của tôi mà tủi thân ảo não.

Nghe câu chuyện của chàng thanh niên bất hạnh, tôi (tác giả) quyết cứu lấy linh hồn chàng, sao cho chàng được chịu Phép rửa tội trước giờ chết. Hôm sau, lúc 10 giờ tôi đi tìm chàng. Bịnh nhân ở đó nói, chàng chết lúc 9 giờ đêm qua.

Than ôi! Con đường tự do phóng túng là con đường sâu độc hiểm ác dường bao!…

          “Ai ơi kíp hãy lo xa

            Hãy ghi mấy chữ: Ôi là tự do!

Nhận xét: kiểu truyện đạo lý răn đời, có nhân có quả. Có yếu tố tôn giáo: Kẻ xấu thì không được cứu rỗi.

9.Bùi Minh Nên – Bước đường gay hiểm. 1926 [31 đd]

Truyện có 14 chương.

              Huỳnh Kim Long bị kết án oan tội giết người, cướp của, phải tù 20 năm, đày Côn Nôn. Tù được 10 năm, Long vượt ngục trở về, đổi tên là Phan Sỹ Thường, cưới vợ. Đang đám cưới, bị phát hiện, Long dẫn con trốn về Sài gòn.

Con đường lẩn trốn gian nan vô cùng. Long lọt vào tay bọn xã hội đen (Bọn Kéo đỏi), chúng ép Long phải làm việc cho chúng. Sau cùng tất cả đều bị bắt.

Ra tòa, Long được một linh mục đưa bằng chứng anh vô tội. Tòa tha bổng. Anh gặp lại mẹ. Con anh, bây giờ có bà nội và mẹ mới.

Nhận xét: Truyện vụ án, kiểu truyện của văn chương thị trường. Tác giả hư cấu nhiều tình huống éo le, bất ngờ, gay cấn, nguy hiểm để tạo cảm xúc cho người đọc. Truyện có yếu tố tôn giáo.

9.Lưu Thanh-Thần Công Lý [31 đd]

          Truyện kể lại cuộc đời chìm nổi của Khôi, con quan Thị Lang bộ Hình Phùng Tuấn Hạnh ở Huế, triều Tự Đức, từ sau khi cha mẹ chết.

Năm Khôi 20 tuổi, cha đột ngột qua đời, Khôi phải bỏ dở việc học. Bà Khuê Tú, mẹ ghẻ Khôi chiếm hết gia sản và đuổi Khôi ra khỏi nhà. Khôi tìm đến cậu ruột là ông Bạch Tôn ở Cồn Cỏ để nương thân. Ở bến đò Lai, Khôi cứu được Tuyết Nga, cô gái định trầm mình vì bị cha mẹ ép gả. Không muốn nặng gánh cho cậu, Khôi vào Nam. Thuyền của Khôi bị bão, Khôi được cứu. Không nơi nương tựa, Khôi phải sống lang thang, xin ăn từ làng này sang làng khác. Có khi bị chó cắn phải ngồi ngoài đường, tối vào ngủ hốc cây. Khôi lên tỉnh tìm việc, lại bị bắt oan vì tội ăn cướp, bị giải lên quan.

Khi biết Khôi bị oan, và hỏi ra, biết Khôi là con quan Phùng Tuấn Hạnh, bạn đồng liêu, quan Trần Lân Ái cho Khôi ở lại nhà và gom học trò cho Khôi dạy, rồi ngài liệu phục hồi cái quyền lợi lại cho Khôi.

Ở nhà Trần Lân Ái, một lần đi săn ở trong rừng, Khôi bị lạc, tạt vào am nhỏ của sư bà. Ở đây Khôi gặp lại Tuyết Nga, con quan Ngô Bình Lương. Từ đó Nga và Khôi kết giao, tình trong sáng. Vụ án của Khôi được Ngô Bình Lương giúp đưa ra xét xử. Khôi nhận lại được ngót 3 phần sự nghiệp của cha.

Năm sau, Khôi đậu Cử nhơn, lấy Tuyết Nga. Khôi đưa vợ về quê vinh quy bái tổ, xây mộ cho cha mẹ. Sau đó Khôi nhận giấy bổ Tri huyện trong Bồng Sơn. có 2 gái 4 trai.

Bà Khuê Tú phải bán sạch tài sản để chạy án, rồi cháy nhà. Bà bỏ về Thừa Thiên, từ đó không ai biết tin.

        “Cho hay thiên đạo chí công/ Đòn cân tạo hóa vốn không sai lầm”

Nhận xét: kiểu truyện dạy đạo lý, luật nhân quả: ở hiền gặp lành, có duyên thì nên duyên. Không có yếu tố tôn giáo.

10.Nguyễn Văn Hưng ThạnhCó tên mà không có họ (1934),

Có tên mà không có họ kể chuyện đời gian truân côi cút nhưng cuối truyện được ơn phước và thành đôi của Đào Kim Mạnh tức Bonaventure Mạnh / Tư Mạnh và cô Maria Têrêsa Huỳnh Thị Tân. Hai người sau đó đã ra tay cứu giúp cô Mai Thị Loan cơ nhỡ, bệnh nặng mà không xu dính túi, biết sắp chết nên giao con cho cô Tân nhận làm con nuôi.[29 đd]

12.Thụy An – Một linh hồn [[32]]

Một linh hồn là chuyện tình yêu của Vân và Di. Một chuyện tình đẹp nhưng đầy đau khổ. Nàng đã quá yêu Di hơn cả yêu Chúa.

4 năm trước Vân gặp Di ở Cap-Saint Jacque, Di mới tốt nghiệp Cử nhân Luật ở Pháp về.

Vân là con của Bảy Thanh và Châu. 20 năm trước, Thanh và Châu yêu nhau nhưng gia đình không đồng ý. Châu có đạo, Thanh thì không. Gia đình hai bên chênh lệch. Hai người trốn vào Sài Gòn. Năm ấy cậu 23 còn cô 18. Thanh đã có thai. Họ được cha Robert giúp. Sau đó Châu bỏ Thanh, lấy vợ và du học. Thanh sinh Vân. Sau một thời gian sống với Vĩnh, Thanh gừi con cho cha Robert rồi bỏ đi. Cha Robert gửi Vân cho các Dì nuôi. Thanh trở thành ả giang hồ nổi tiếng.

Thanh đi đón Vân ở nhà ga Hà Nội. Ả tổ chức tiệc mừng để thực hiện âm mưu bán Vân cho cho Phủ tịch, người tình giang hồ, để có tiền trả nợ. Thanh buộc Phủ Tịch phải đưa cho ả bản địa đồ và giấy nhà. Ả quyết phá nát gia sản của Phủ Tịch. Vân quyết liệt không chịu vì biết Tịch đã có vợ 3 con.

Di dẫn chị dâu lên nhà Thanh xin bàn chuyện hôn nhân. Người chị dâu phát hiện ra Bảy Thanh là người đã hại chồng mình mất chức và đi tù. Di không ngờ mẹ của Vân là một ả điếm đã hại anh mình. Di chia tay Vân

Sợ mẹ nợ nần mà đi tù, Vân đồng ý lấy Tịch. Khi đám cưới diễn ra thì vợ Tịch đến. Tịch đánh vợ một trận dã man. Vân xin lỗi thị và hứa không lấy Tịch nữa.

Không có tiền trả nợ, Nhà cửa của Thanh bị tịch biên. Hai mẹ con tìm đến chùa gửi đồ và tá túc vài ngày, rồi thuê một căn nhà ở chỗ vắng, làm việc vặt sinh nhai qua ngày.

Vân bị sốt và trở bịnh nặng. Thanh tìm đến vài mối cũ để mượn tiền nhưng không được, còn bị sỉ nhục, bèn trở lại nghề cũ. Ả đến chỗ hẹn với khách chơi ở bên sông, Vân đi theo. Không ngờ mẹ hẹn đi khách với Di. Nhận ra mẹ Vân, Di bỏ chạy.

Sau cùng, Thanh đến gặp và xin Di đến an ủi Vân. Ả nói Vân sắp chết và rất yêu Di.

Vân chết. Di nhận lỗi với Linh mục và yêu cầu vị linh mục giải thích tại sao một người con gái tốt như Vân lạ suốt đời khổ. Linh mục trả lời. Di hãy nhìn lên Câu Rút (Thánh giá) và học theo nàng. Mọi việc hy sinh tốt đẹp của nàng đều theo ý cầu nguyện: “Lạy trời, xin theo ý trời định”. Di gục đầu khóc tấm tức: “Xin theo ý trời!”.

Nhận xét:

Một linh hồn là một chuyện tình yêu dang dở vì người mẹ là một ả điếm ngăn cản. Tác giả hư cấu nhiều hoàn cảnh éo le và cố ý đẩy nhân vật vào ngõ cụt để tạo ra bi kịch nhằm thu hút sự thương cảm cùa người đọc.

Đây là văn chương thị trường, không phải văn học Công giáo. Yếu tố tôn giáo được sử dụng để tạo ý nghĩa tư tưởng (?). Nhưng thực chất là phản lại đức tin và luân lý Công giáo. Vì không có đạo nên Thanh bị Châu bỏ. Biết Phủ Tịch có vợ nhưng Bảy Thanh vẫn bán Vân cho hắn, còn định làm đám cưới trong nhà thờ. Đạo lý nào cho phép Bảy Thanh đi khách với người yêu của con gái là Di? Di đã tốt nghiệp Luật ở Pháp về, Vân cũng đã trưởng thành, sao hai người không tìm việc, không tự cứu mình  mà cam chịu chết? Vị Linh mục lý giải số phận khốn khổ của Vân là vì đức vâng lời và hy sinh như Chúa Giêsu trên Thánh giá: “Lạy trời, xin theo ý trời định”.

Đó là một giải thích phi logic và trái với tín lý Công giáo. Bởi vì, Vân không lường được những thủ đoạn độc ác,  nham hiểm của mẹ nên nàng mới bị lừa (đặc biệt là những đòn tâm lý Bảy Thanh đánh vào lòng hiếu thảo của Vân về “công ơn” làm mẹ của Bảy Thanh). Đâu phải Vân vâng theo ý Chúa. Chẳng lẽ “Ý Chúa” là những mưu đồ của Bảy Thanh? Chẳng lẽ Chúa lại lừa dối Vân để nàng phải đau khổ? Sao Chúa nhân từ không cho nàng con đường cứu rỗi mà phải chết trong oan nghiệt?

Những điều ấy chỉ ra rằng, yếu tố Công giáo trong Một linh hồn không được trình bày để loan báo Tin Mừng, mà chỉ để làm phông tư tưởng. Thí dụ, những tác phẩm viết theo tư tường Phật giáo, tác giả dùng lý thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi để lý giải kiếp khổ của một nhân vật (Truyện Kiều: “Đã mang lấy nghiệp vào thân“),thì Thụy An mượn “Ý Chúa” để lý giải cho chủ đề câu truyện, viết khác đi so với truyện mượn bối cảnh Phật giáo của những tác giả trước đó (Tắt lửa lòng, Hồn bướm mơ tiên…)

II. Một vài đặc điểm của văn xuôi Công giáo “truyền thống”

  1. Ngoại trừ truyện của Majorica, truyện dài của các tác giả Công giáo đầu thế kỷ XX đều là kiểu truyện của văn chương thị trường có yếu tố Công giáo.

Văn chương thị trường hướng về công chúng thị trường, khai thác thị hiếu bản năng của người đọc, và mục đích chỉ là giải trí. Người viết, nhà xuất bản chỉ có mục đích bán được nhiều để có lợi nhiều.

  1.  Truyện hư cấu nhiều tình huống éo le, gay cấn, thường lồng trong vụ án, hoặc phiêu lưu (lưu lạc). Nhân vật lâm vào những nghịch cảnh, không nơi bám víu, bị áp bức bất công, bị bắt làm nô lệ (mục đích khơi gợi cảm xúc của người đọc). Sau cùng thì được cứu giải.

Có truyện hư cấu những mâu thuẫn phi lý.

Trong truyện Cha giết con, gia đình Công giáo lại cổ vũ cho việc giáo dục con ăn chơi, để con quên khát vọng đi tu, sau cùng bị giết. Hoặc Truyện Thầy Lazaro Phiền, một thầy tu, có ý thức sâu sắc về đức hạnh và tội, lại trực tiếp giết hai người thân yêu là vợ và bạn chỉ vì thầm ghen tuông mơ hồ. Trong khi kẻ chủ mưu là một ả lăng loàn lại không bị xử phạt. Lương tâm Công giáo không bao giờ để nhân vật hành xử như thế. Truyện Một linh hồn có quá nhiều sự việc nghịch với đức tin và luân lý Công giáo.

3.Truyện luân lý thì viết theo công thức, thường theo cấu trúc luật nhân quả, ở hiền gặp lành, kẻ ác bị báo ứng. Tác giả ca ngợi tình nghĩa, thủy chung, đạo làm người (ke61`t hợp luân lý Nho giáo với điều răn Công giáo)…

4.Yếu tố Công giáo mờ nhạt. Có khi nhân vật chỉ là người có đạo, có biết nghĩ đến Chúa, biết sự phúc sự tội, như một thứ luân lý (thay cho luân lý phong kiến), không phải là sống đức tin. Không truyện nào được viết dưới ánh sáng Mỹ học Kitô giáo, được viết để loan báo Tin Mừng. Truyện Ôi là tự do!, nhân vật chết trước khi được rửa tội (kẻ xấu thì không được cứu rỗi). Thầy tu Lazarô Phiền lại phạm trọng tội là cố ý giết người chỉ vì ghen tuông mơ hồ. Truyện Một linh hồn có nhiều yếu tố phản lại đức tin và luân lý Công giáo. Truyện Một người vô dụng, Thần Công lý không có yếu tố tôn giáo.

5.Nhiều truyện có yếu tố hiện thực như tên người, địa danh, biến cố lịch sử, đời sống xã hội như: Truyện thầy Lazarô Phiền, Thần Công lý, Đôi bước lưu ly, Tìm của báu,…nhưng truyện không thuộc ý thức sáng tác của Chủ nghĩa hiện thực (miêu tả nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình). Yếu tố hiện thực chỉ có vai trò là chi tiết truyện, tạo lòng tin cho người đọc rằng đây là truyện thực. Truyện không khám phá hiện thực để cải tạo hiện thực.

III. Tác phẩm văn học Công giáo của Song Nguyễn

            Tác phẩm của Song Nguyễn kế thừa cách kể chuyện của Magiorica và cách viết của các linh mục trong lịch sử truyền giáo: Alexandre de Rhodes (1593-1660), linh mục Lữ Y Đoan (1613-1678), linh mục Philipphê do Rosario Bỉnh (1759-1833), linh mục Đặng Đức Tuấn (1806-1874), thánh linh mục Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853). Giám mục GB Hồ Ngọc Cẩn (1876–1948), Giám mục Micae Nguyễn Khắc Ngữ (1909–2009), Giám mục GB Bùi Tuần (1927–2024), Đức Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận (1928–2002), Giám mục Phaxicô Xavie Nguyễn Văn Sang (1931–2017)…

Nội dung văn chương Song Nguyễn là hiện thực đời sống của linh mục, tu sĩ và giáo dân Công giáo trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến khi “đổi mới”. Văn xuôi đầu thế kỷ XX là văn chương hư cấu viết cho công chúng thị trường chỉ để giải trí, không có giá trị hiện thực.

Văn chương Song Nguyễn viết dưới ánh sáng Mỹ học Ki tô giáo, đề xuất những giải pháp cho những vấn đề tư tưởng lớn của thời đại (đã phân tích ở trên). Trái lại, văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX, tuy có đề cập đến vài sự kiện thời đại như việc cấm đạo ở Biên hòa, ở Bắc kỳ, ở Trung quốc, song đó chỉ là miêu tả hiện tượng, không đề xuất được những giải pháp tư tưởng như  Song Nguyễn. Truyện Một Linh hồn còn phản lại luân lý và đức tin Kitô giáo.

Nhiều truyện của văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX hư cấu những tình huống éo le, gay cấn, cấu trúc hết sức rắc rối và nhiều khi phi lý (Cha giết con, Đôi bước lưu ly, Ôi là tự do!, Bước đường gay hiểm…). Trái lại, Văn chương Song Nguyễn là văn chương hiện thực. Nhân vật, nội dung, tình huống, sự việc, biến cố diễn ra trong đời thực, có tính lịch sử cụ thể, vì thế đem đến nhiều giá trị cho người đọc. Đọc tác phẩm của Song Nguyễn, người đọc có thể hiểu người Công giáo Việt Nam đã sốn đức tin thế nào trong bối cảnh lịch sử từ 1945 đến khi “đổi mới” (1986)

Đặc sắc của văn chương Song Nguyễn là những “bài suy niệm” rút ra từ những câu chuyện được kể mà tác giả muốn chia sẻ kinh nghiệm với bạn bè. Không tác phẩm nào của văn xuôi “truyền thống” có yếu tố Công giáo đầu thế kỷ XX  có được những “bài suy niệm” như thế.

KẾT LUẬN

  1. Cho đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào về Lý luận văn học Công giáo. Bởi, nói cho đúng, văn học Công giáo Việt Nam là nền văn học tự phát, còn đang trên đường khai mở những con đường, thành ra, chưa thể có một nền lý luận văn học như các nền văn học khác. Và vì thế, việc nghiên cứu, từ thực tiễn sáng tác đến những lời dạy của Giáo hội, để hình thành một nền lý luận văn học Công giáo là điều rất cần thiết.
  1. Thư của Đức Giáo hoàng Gioan – Phalo II gửi văn nghệ sĩ năm 1999 và Thư của  Đức Giáo hoàng Phanxicô về vai trò của văn chương trong đào tạo linh mục (ngày 17/7/2024)là hai văn kiện chính thức của Giáo hội, đặt nền móng cho nhiều vấn đề lý luận Văn học Nghệ thuật. Các nhà nghiên cứu văn học có thể vận dụng, để từ đó, so sánh với những nền lý luận văn học khác, mà làm rõ cái riêng của văn học Công giáo đóng góp cho văn học nhân loại
  1. Văn học Công giáo đương đại có khả năng hội tụ để tiếp nối truyền thống văn học Công giáo đã có từ 400 năm nay.

Về thơ, có các nhà thơ Lê Đình Bảng, Đức Ông Xuân Ly Băng, Lm Trăng Thập Tự, Lm Sơn Ca Linh, Lm  Cát Đen, Lm Hồng Phúc, nhà thơ Mai Văn Phấn, giới trẻ có Lm Khắc Đỗ, Đoàn Trung Hậu, Nt Xuân Cát…

Về văn xuôi, có Song Nguyễn (Đức Giám mục Đaminh Nguyễn Chu Trinh), Lm Nguyễn Trung Tây, Lm Cao Gia An, Lm Nguyễn Đức Thông, các tác giả trẻ có Nguyễn Phương Thảo, nhà văn Nguyễn Thị Khánh Liên, Nt Vinh Sơn Chung, Hải Miên, Chung Thanh Huy…(tôi xin không nêu tên các nhà văn người Công giáo viết văn chương thế tục)

Và về nghiên cứu văn học Công giáo, có Ths Nt Đặng Thị Lĩnh, NCS Nt Đinh Ngọc Oanh, Ths Nguyễn Tấn Tài…

  1. Trên nền bối cảnh lịch sử xã hội, và trong ánh sáng của Tin Mừng, khi so sánh với lý luận văn học của những nền văn học khác, tác phẩm của Song Nguyễn đã có những đóng góp giá trị vào lý luận văn học Công giáo đương đại.

Đó là sự thể hiện ánh sáng tư tưởng Mỹ học Kitô giáo, kết hợp với vẻ đẹp Lòng Chúa Thương Xót trong “chủ nghĩa nhân văn của Tin Mừng”, được diễn tả bằng bút pháp “Hiện thực cứu rỗi”. Những chuẩn mực này xác định được: thế nào là tác phẩm văn học Công giáo, thế nào là nhà văn Công giáo, nội dung của văn học Công giáo viết về những gì, nhân vật của văn học Công giáo là ai, mục đích sáng tác của văn học Công giáo khác với mục đích văn chương thế tục như thế nào? Những yếu tố thi pháp của văn học Công giáo có đặc trưng gì? Và làm thế nào để văn học Công giáo hội nhập được với văn học dân tộc, trở thành muối men cho đời.

Tác phẩm của Song Nguyễn, bằng hình tượng nghệ thuật, đã hóa giải được những định kiến về đạo Công giáo, đã xóa đi những đố lỵ lương – giáo trong sinh hoạt, đã góp phần hội nhập văn hóa Công giáo với văn hóa dân tộc, và xây dựng được một hệ thống hình tượng nhân vật gồm các Linh mục, nữ tu và giáo dân Công giáo đồng hành với dân tộc. Có thể thấy rất rõ những tư tưởng này trong bộ truyện dài Đất Mới (3 tập)

Rồi đây, những giá trị lý luận ấy của tác phẩm Song Nguyễn sẽ được nghiên cứu chuyên sâu hơn và sẽ được chia sẻ trong sáng tác của những người viết trẻ Công giáo.

Thế hệ nhà văn Công giáo thế kỷ XXI không bị vướng mắc trong những định kiến lịch sử, lại tiếp cận với văn học toàn cầu, sẽ góp thêm những thành tựu mới cho văn học Công giáo.

Tháng 7/ 2026

 

____________

 

[1]Tham khảo: Lm. Phanxicô Đào Trung Hiệu, OP- Những mốc lịch sử quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam

https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/nhung-moc-lich-su-quan-trong-cua-ghcgvn-31228

[2] Vinc Trần Ngọc Thụ: Giáo Hội Việt Nam Những thời kỳ bị bách hại và những sắc chỉ cấm đạo. https://vntaiwan.catholic.org.tw/ghvienam/tudaovn4.htm

[3] Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép họ theo.

[4] Stephen R. Brown-Treaty of Tordesillas: The 1494 Decision Still Influencing Today’s World: “the pope had given to Spain and Portugal far more territory than anyone could have imagined…”

https://www.thehistoryreader.com/world-history/treaty-of-tordesillas-the-1494-decision-still-influencing-todays-world/

[5] Đào Quang Toản: Huấn thị 1659 trong lịch sử giáo hội.http://daoquangtoan.free.fr/articlesPJD/HuanThi1659B.pdf

 

[6] Dẫn theo Lm Mai Đức Vinh: Các văn kiện cấm đạo (3), trích Dòng Máu Anh Hùng, của Lm Giuse Vũ Thành, xuất bản 1987, bản in năm 2020, tr. 192. https://www.nguoitinhuu.org/martyrs/danhsach.html

[7] Hoàng Đức Oanh: bản dịch Huấn dụ Thánh bộ Truyền giáo cho các vị Đại diện Tông tòa sắp sang Trung Hoa và Việt Nam năm 1659. Dịch năm 1965, Huế .https://gpkontum.wordpress.com/wp-content/uploads/2014/08/doi-thu-kntb-01a2.pdf

[8] Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ-Vụ án phong thánh. 1987.https://vntaiwan.catholic.org.tw/ghvienam/tudaovn4.htm

[9] Dẫn theo Lm Vinh Sơn Trần Minh Thực: Vài ghi nhận về thái độ của vua chúa đối với đạo công giáo. https://www.nguoitinhuu.org/chiase/linhtinh/XuBac/ch2-4.html

 [10] Lm Vũ Thành: Dòng máu anh hùng. Ấn bản năm 2020. Tr. 220

[11] Lm. Antôn Nguyễn Ngọc Sơn-Cuộc hội nhập văn hóa của Giáo hội Công Giáo Việt Nam (1533-2019https://tgpsaigon.net/bai-viet/cuoc-hoi-nhap-van-hoa-cua-giao-hoi-cong-giao-viet-nam-1533-2019-58836

[12] Trần Tam Tỉnh: Thập giá và lưỡi gươm. Nxb Trẻ 1988. Tr 45

[13] Louis-Eugène Louvet: Vie de MGR Puginier– bản dịch của Nguyễn Tiến Văn. Nxb Hà Nội 2019. Tr. 557

[14] Huấn dụ Thánh bộ Truyền giáo cho các vị Đại diện Tông tòa sắp sang Trung Hoa và Việt Nam năm 1659. GM Micae Hoàng Đức Oanh 2004.Sarcedos-Linh mục nguyệt san số 43, tháng 7. 1965

[15] thư của Đức giáo hoàng Gioan Phao lô II gửi nghệ sĩ năm 1999.

[16] Xem thêm: Bùi Công Thuấn: Tư tưởng Mỹ học Ki tô giáo. Nguồn: Những Mùa vàng văn học Công giáo. Nxb HNV 2020. https://vanhoadatmoi.net/chuyen-de/tu-tuong-my-hoc-kito-giao-va-van-hoc-nghe-thuat-cong-giao-bui-cong-thuan.html

[17] Xuân Ly Băng trả lời Trăng Thập Tự ngày 25/8/1988:

https://www.tgpsaigon.net/bai-viet/xuan-ly-bang-hon-tho-va-tam-long-muc-tu-48041

[18] Xin đọc Võ Văn Nhơn: Tuồng Cha Minh, vở kịch quốc ngữ hiện đại đầu tiên của Việt Nam . Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 3 (601) tháng 3 – 2022, tr. 33 – 41. https://hcmussh.edu.vn/tin-tuc/vo-kich-quoc-ngu-hien-dai-dau-tien-cua-viet-nam

[19] Lê Đình Bảng: Văn học Công giáo Việt Nam, Những chặng đường.Nxb Tự điển bách khoa.2010

[20] Xin đọc chuyên luận: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014. Tái bản 2019, 2025. Tải về đọc theo link: https://www.mediafire.com/file/ber5y0wagbwk2ym/6_TI%25E1%25BA%25BEP_C%25E1%25BA%25ACN_SN-NXB_V%25C4%2583n_h%25E1%25BB%258Dc-2025.pdf/file

[21] Nghị quyết số 297-NQ/CP năm 1977 của Hội đồng Chính phủ

Nghị định số 26/1999/NĐ-CP

Nghị định 22/2005/NĐ-CP và thay thế bằng Nghị định 92/2012/NĐ-CP

Nghị định 162/2017/NĐ-CP (và được cập nhật theo Nghị định 95/2023/NĐ-CP)

[22] Năm Linh mục được cử hành đặc biệt trên toàn cầu từ ngày 19/6/2009 đến ngày 19/6/2010. Năm này do Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI công bố, nhân dịp kỷ niệm 150 năm ngày qua đời của Thánh Gioan Maria Vianney – bổn mạng của các linh mục.

[23] Song Nguyễn: Hãy ca tụng Chúa-Hồi ký tập 1, chương II: Gia thế-

Truyện Cái tráp gia bảo, tập truyện ngắn: Người cha hiền.

[24] Bùi Công Thuấn – Bài giới thiệu tập truyện Mẹ yêu của con. Nguồn: Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025

[25] Bài giới thiệu Đồng cỏ xanh. Nguồn: Bùi Công Thuấn-Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025.

[26] Bùi Công Thuấn – Bài giới thiệu truyện dài Định hướng của Song Nguyễn. Nguồn: Tiếp cận thế giới nghệ thuật của Song Nguyễn. Nxb HNV 2014, tái bản 2019 và 2025.

[27] NCS Đinh Ngọc Oanh-Truyện dài của Song Nguyễn trong tương quan với mô hình tự sự giáo huấn Công giáo nửa đầu thế kỷ xx”. (Văn bản nghiên cứu của tác giả)

[28] Nguồn: Nhóm Nghiên cứu – Dịch thuật Hán Nôm Công giáo: GS Thanh Lãng, Lm. Vinc. Nguyễn Hưng, học giả Vũ Văn Kính chuyển sang chữ Quốc ngữ 2003)

[29] Nguyễn Vy Khanh-Sơ thảo văn học Công giáo Việt Nam. Nguyễn Publishing, Toronto 2023

[30] Đinh Ngọc Oanh: Giới thiệu tác phẩm tiểu thuyết Công giáo của cha Phêrô Nghĩa đăng trên tuần báo Nam Kỳ Địa phận. https://dongtrinhvuongsaigon.org/vi/news/sach-hay/tac-pham-tieu-thuyet-cong-giao-cua-cha-phero-nghia-932.html

[31] (Nguồn: Bùi Công Thuấn- Hoa trên núi thánh: Tiểu thuyết trên Nam Kỳ Địa Phận– Nxb Hồng Đức 2025)

[32] Nguồn: Bùi Công Thuấn-Văn học Công giáo Việt Nam đương đại. Nxb HNV 2022

Loading

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

call Hotline 1 0798287075 call Hotline 2 0798 287 075 facebook Fanpage Chat FB zalo Chat Zalo youtube Youtube Tiktok Tiktok